Thứ Năm, 14 tháng 10, 2010

Tổng quan tình hình nghiên cứu thi tuyển chữ Hán Việt Nam

Trong kho tàng tư liệu Hán Nôm Việt Nam, các thi tuyển chữ Hán có vai trò, vị trí quan trọng đối với việc bảo tồn các tác phẩm văn học, cụ thể là tác phẩm thi ca dân tộc thời trung đại. Chính vì vậy, đã có nỗ lực của rất nhiều người nhằm khai thác, công bố, phổ biến các bộ sách quý này, bao gồm các công tác: thư mục, lược thuật, hiệu khám, dịch thuật,… Nhưng do tình hình tư liệu để lại khá phức tạp, khối lượng công việc đồ sộ, luôn có những phát hiện mới, tư liệu mới, phương pháp tiếp cận mới, nên những gì đã làm được chưa thể coi là hoàn bị. Từ thực tế đó, bài viết của chúng tôi muốn đặt lại vấn đề tiếp cận, khai thác hệ thống các thi tuyển chữ Hán trong công tác nghiên cứu và giảng dạy Hán Nôm hiện nay. Cũng do tính chất đặt vấn đề nên bài viết sẽ chỉ trình bày nêu thực trạng văn bản và các hướng nghiên cứu chính góp phần phục vụ cho mục tiêu trên.
I. Thực trạng văn bản các thi tuyển chữ Hán Việt Nam
Trong kho tàng tư liệu Hán Nôm của chúng ta hiện nay có đến vài chục bộ thi tuyển, trong đó, có khoảng gần chục bộ thi tuyển tiêu biểu, như: Việt âm thi tập, Tinh tuyển chư gia luật thi, Trích diễm thi tập, Toàn Việt thi lục, Lịch triều thi sao (Hoàng Việt thi tuyển), Việt thi tục biên, Hoàng Việt Phong Nhã thống biên,… Điểm qua các bộ thi tuyển này, chúng ta thấy nổi lên thực trạng sau:
1. Niên đại, tác giả
Thực may mắn là hầu như các thi tuyển đều có niên đại và tác giả cụ thể. Những thông tin về niên đại và tác giả có thể được tìm thấy trong chính văn bản hoặc các tư liệu khác như các chính sử, sách tiểu sử, địa chí, các bài tựa, bạt, dẫn,… đặc biệt là các công trình thư mục học cổ, như: thiên Nghệ văn chí sách Lê triều thông sử, thiên Thiên chương sách Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, thiên Văn tịch chí sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, v.v…. Điều đó tạo thuận lợi cho việc xác lập vị trí, quá trình hình thành và phát triển của thi tuyển chữ Hán Việt Nam. Tuy nhiên, những ghi chép trong văn bản cũng như ở các tư liệu khác nhiều khi không thống nhất, gây khó khăn cho việc xác định thông tin chính xác. Mặt khác, có văn bản do nhiều tác giả tham gia biên soạn, biên tập (Việt âm thi tập, Minh đô thi vựng); có tác giả vô danh, tác giả hữu danh (Toàn Việt thi lục, Minh đô thi vựng). Trong quá trình lưu hành, công trình được sửa chữa, biên tập nhiều lần mà không ít có sự chỉ dẫn hay nêu xuất xứ (Toàn Việt thi lục, Minh đô thi vựng, Việt thi tục biên). Đó là những trở ngại đầu tiên khi nghiên cứu thi tuyển chữ Hán Việt Nam.
2. Truyền bản, dị bản
Hầu hết các thi tuyển đều không còn giữ được bản gốc (thủ cảo, nguyên cảo, nguyên bản) của tác giả, quá trình truyền bản phức tạp và để lại nhiều dị bản (chẳng hạn, Toàn Việt thi lục có đến hơn 10 dị bản). Đây cũng là tình hình chung của các tác phẩm Hán Nôm Việt Nam. Đương nhiên, việc không còn bản gốc để lại nhiều khó khăn cho công tác giám định, thẩm giá văn bản. Quá trình truyền bản của các thi tuyển cũng là vấn đề khá phức tạp, nan giải. Các văn bản truyền đến thời chúng ta như thế nào vẫn là vấn đề chưa thực sự rõ ràng. Dị bản của chúng lại là một vấn đề phức tạp hơn nữa, vì đa số các thi tuyển chỉ có văn bản chép tay, chứa đựng nhiều khiếm khuyết, sai sót; nếu là bản in thì phần nhiều cũng là in lại, in muộn (cách thời điểm ra đời vài ba trăm năm), thiếu sót, mất mát khá nhiều (Việt âm thi tập, Tinh tuyển chư gia luật thi,…). Ngay cả một văn bản được in và còn lại nguyên vẹn như Hoàng Việt thi tuyển thì đó cũng chỉ là bản in lại bản thảo Lịch triều thi sao cách đó gần 40 năm (1788 – 1825). Nhiều dị bản vẫn còn nằm rải rác đâu đó trong các thư viện tư gia, thư viện nước ngoài,… chưa được chú ý khai thác, chưa có cơ hội trình làng (Việt âm thi tập, Toàn Việt thi lục, Minh đô thi vựng,…). Các dị bản chúng ta đã nắm được có bản đã rách nát, khó đọc, các bản “lành lặn” lại có sự lộn xộn, thiếu thống nhất gây cản trở cho việc xác lập văn bản quy phạm và khai thác.
3. Độ tin cậy của văn bản
Do tình hình văn bản phức tạp nêu trên, nhiều văn bản thi tuyển hiện còn có độ tin cậy thấp (nhất là các văn bản chép tay), nguy cơ ngụy tạo khá lớn, gây hoài nghi, e ngại trong việc khai thác chúng. Có văn bản tưởng chừng đã mất đột nhiên lại xuất hiện trở lại giữa thời hiện đại với diện dạo “mới lạ” khiến ta không khỏi băn khoăn về nguồn gốc của nó (Trích diễm thi tập). Có văn bản tồn tại nhiều dị bản, các dị bản khá không thống nhất; có dị bản bộc lộ rõ sự bổ sung, sao chép tùy tiện của người đời sau (Tinh tuyển chư gia luật thi, Toàn Việt thi lục,…)( ). Điều đó đòi hỏi phải tiến hành thao tác “biện ngụy”, nhằm xác định được độ tin cậy của văn bản, chọn lọc được văn bản chân xác nhất. Tuy nhiên, trong quá trình đó, chúng ta cũng không nên loại bỏ những văn bản được coi là “ngụy thư”, bởi nhiều khi, chúng cũng có giá trị không nhỏ, ít nhất là về mặt tư liệu( ).
II. Các hướng nghiên cứu thi tuyển chữ Hán Việt Nam chủ đạo đặt ra
Từ thực trạng văn bản các thi tuyển chữ Hán của Việt Nam trên đây, chúng tôi xin đề xuất một số hướng nghiên cứu sau:
1. Điền dã, sưu tầm văn bản
Công việc đầu tiên chúng ta nên làm vẫn là cố gắng sưu tầm các văn bản vẫn còn nằm rải rác trong nhân dân, tại các thư viện viện trong và ngoài nước. Có làm công việc này chúng ta mới hi vọng bổ sung thêm vào số lượng các sách thi tuyển ít ỏi hiện có, làm cơ sở vững chắc hơn cho những hướng nghiên cứu tiếp theo. Trước đây, nhờ công việc này, chúng ta đã tìm lại được văn bản một bộ thi tuyển hết sức có giá trị là Trích diễm thi tập. Cho dù vẫn còn có sự hoài nghi về độ tin cậy của văn bản thì nó vẫn là một văn bản quý. Thực tế những năm gần đây cũng cho thấy, hướng đi này vẫn đầy triển vọng. Chúng ta đã phát hiện được một dị bản Việt âm thi tập mới, khác với những văn bản hiện biết, ngay tại Thư viện Quốc gia Hà Nội( ). Chúng ta cũng đã tìm thấy một dị bản khá độc đáo của Toàn Việt thi lục tại một thư viện tư gia ở Bắc Kinh, Trung Quốc( ). Chúng tôi cũng đã có trong tay một dị bản của Minh đô thi vựng tại một thư viện tư gia ở Hà Nội, chờ giám định và công bố… Những dị bản đó cung cấp cho chúng ta khá nhiều thông tin mới về tác giả, tác phẩm, văn bản các thi tuyển. Như vậy, nếu phạm vi điền dã được mở rộng, công phu sưu tầm được gia tăng và thêm một chút may mắn, chắc hẳn chúng ta sẽ còn thu lượm được những kết quả khả quan hơn.
2. Nghiên cứu văn bản học
Với các văn bản đã có trong tay, việc làm cấp thiết hiện nay là phải tiến hành nghiên cứu văn bản học một cách toàn diện các thi tuyển chữ Hán Việt Nam thời trung đại. Trước đây, việc nghiên cứu văn bản các thi tuyển này đã được chú ý, nhưng mục đích chủ yếu của nó vẫn là để phục vụ cho một công trình văn học sử nào đó, như để tìm hiểu về một tác giả tác phẩm hay một giai đoạn nào đó (công trình Thơ văn Lí Trần( ) chẳng hạn). Ít có công trình nghiên cứu văn bản thi tuyển một cách chuyên biệt và có hệ thống dù rằng những đóng góp của chúng không phải là nhỏ. Người duy nhất đặt vấn đề này là học giả Trần Văn Giáp. Nhưng ông lại thiên về nghiên cứu chúng để phục vụ cho công tác tiểu sử học và thư mục học của mình( ) nên mức độ khảo sát, tìm hiểu còn có chỗ sơ sài. Hơn nữa, do điều kiện tư liệu lúc bấy giờ thiếu thốn, phương pháp nghiên cứu thô sơ, thủ công nên kết quả đạt được còn nhiều hạn chế. Nhiều kết quả cần được khảo sát, kiểm điểm lại. Tuy nhiên, đó vẫn là những đóng góp rất quan trọng, có tính
Theo chúng tôi, muốn nghiên cứu văn bản các thi tuyển một cách hiệu quả, cần tiến hành một số thao tác sau:
- Tiếp tục đào sâu tìm tòi, phát hiện những thông tin về các bộ thi tuyển được ghi chép trong các tư liệu Hán Nôm. Thực tế cho thấy, nhiều thông tin quý giá như vậy vẫn còn tiềm ẩn trong kho sách Hán Nôm. Những thông tin này, qua đối chiếu với tình hình các dị bản, sẽ giúp làm rõ một số vấn đề còn tồn nghi, như vấn đề: niên đại, soạn giả, truyền bản,…các bộ thi tuyển.
- Cần so sánh một cách triệt để các dị bản của một bộ thi tuyển nhất định, ngõ hầu tìm ra thiện bản hay chí ít là tìm ra sự bổ sung cho nhau giữa các dị bản, góp phần xác lập “văn bản quy phạm” cho mỗi bộ thi tuyển. Chẳng hạn, chúng tôi đã tiến hành so sánh 2 dị bản của bộ Tinh tuyển chư gia luật thi và tìm ra một số thông tin thú vị, cho thấy phần nào diện mạo ban đầu của tác phẩm cũng như quá trình truyền bản của công trình( ).
- Cần so sánh triệt để, toàn diện hơn nữa văn bản của các bộ thi tuyển với nhau. Thực tế cho thấy, các bộ thi tuyển ra đời sau đều có kế thừa, học tập các bộ thi tuyển đi trước đồng thời có sự tiếp nối, sáng tạo. Có những bộ thi tuyển đến nay tuy đã bị mất mát nhiều, nhưng đã được bảo lưu một phần hoặc toàn bộ trong các thi tuyển sau. Trường hợp Việt âm thi tập, Tinh tuyển chư gia luật thi, Trích diễm thi tập với Toàn Việt thi lục là ví dụ điển hình. Có bộ thi tuyển là sự “chép nối” tác phẩm trước đó, chẳng hạn như Hoàng Việt thi tuyển, Việt thi tục biên với Toàn Việt thi lục,… Trên cơ sở so sánh, đối chiếu, chúng ta hoàn toàn có khả năng phục nguyên phần nào các bộ thi tuyển, đồng thời tìm ra đóng góp cụ thể của mỗi công trình cũng như của mỗi soạn giả.
Ngoài ra, chúng ta cũng cần phối hợp nhiều thao tác nghiên cứu liên ngành khác (sử học, địa lí, khảo cổ, ngữ văn học,…) để xử lí các vấn đề về văn bản thi tuyển. Sau khi đã xử lí cơ bản vấn đề đó, chúng ta có thể tiến hành phiên dịch và công bố rộng rãi các công trình này làm tư liệu nghiên cứu.
3. Nghiên cứu loại hình học
Tuy nhiên, các thi tuyển không chỉ có giá trị tư liệu, nó còn có giá trị tự thân với tư cách một loại hình văn bản đặc thù. Vì vậy, chúng ta có thể triển khai hướng nghiên cứu loại hình học. Nghiên cứu loại hình học là xem xét đối tượng như một loại hình có tính hệ thống, tính bền vững, có đặc trưng và bản sắc. Chúng ta hoàn toàn có thể xem thi tuyển như một hiện tượng văn học, văn hóa có lịch sử hình thành và phát triển, có đặc trưng riêng. Thực tế là, với trên chục bộ thi tuyển chữ Hán lớn (với số lượng thơ sưu tập từ vài trăm đến vài ngàn bài), chúng ta đã có một truyền thống làm thi tuyển khá dày dặn. Nếu xâu chuỗi các bộ thi tuyển đó lại, chúng ta có thể dựng được lịch sử hình thành và phát triển của thi tuyển chữ Hán Việt Nam. Bộ thi tuyển đầu tiên xuất hiện vào giữa thế kỉ XV và bộ thi tuyển cuối cùng xuất hiện cuối thế kỉ XIX. Nhiều câu hỏi được đặt ra là: Thi tuyển chữ Hán Việt Nam được hình thành và phát triển như thế nào? Trong bối cảnh văn hóa xã hội ra sao? Đặc điểm của thi tuyển Việt Nam là gì? Đó là những vấn đề cần được giải đáp thấu đáo. Ở đây, cũng không thể không nhắc đến ảnh hưởng của truyền thống thi tuyển Trung Hoa. Thi tuyển Trung Hoa bắt đầu có từ đời Lương (với Văn tuyển của Tiêu Thống), phát triển rầm rộ, liên tục vào các thời Đường, Tống, Nguyên, Minh và đặc biệt là thời Thanh. Thi tuyển Trung Hoa rất đồ sộ, công phu, chặt chẽ. Chắc hẳn, thi tuyển Trung Hoa có ảnh hưởng khá lớn đến thi tuyển Việt Nam. Nhưng ảnh hưởng đó như thế nào? Đến đâu? Liệu có sáng tạo gì riêng trong thi tuyển chữ Hán Việt Nam hay không? Ấy cũng là những vấn đề cần phải làm sáng tỏ.
Tóm lại, các thi tuyển chữ Hán Việt Nam thời Trung đại đang có một thực trạng văn bản khá ngổn ngang, phức tạp đặt ra nhiều vấn đề cần được giải quyết, nhiều hướng nghiên cứu cần được thực thi. Bản thân chúng tôi không chỉ ý thức được điều đó mà đã bắt tay vào việc thực hiện những đề xuất nêu trên và bước đầu đạt được một số thành quả nhất định, đáng khích lệ. Tuy nhiên, đây là một hiện tượng rộng lớn, phức tạp đòi hỏi công phu, nỗ lực của nhiều người, nhiều thế hệ. Bởi vậy, chúng tôi vẫn cứ mạo muội nêu lên, hi vọng thu hút được sư quan tâm, chú ý của những người có khả năng, có tâm huyết với di sản văn học, văn hóa của cha ông./.
Hà Nội, tháng 10 năm 2005 – tháng 10 năm 2007.

PHỤ LỤC
GIỚI THIỆU TÌNH HÌNH VĂN BẢN CÁC THI TUYỂN CHỮ HÁN TIÊU BIỂU CỦA VIỆT NAM THỜI TRUNG ĐẠI
(1). Việt âm thi tập (VATT) hay Việt âm tập, do Phan Phu Tiên (?-? ) khởi biên và Chu Xa (?-?) tục biên. Khởi biên và tạm hoàn thành trong khoảng 1428 - 1433 (tựa), còn tục biên thì vào năm 1446, khi triều đình xuống chỉ cho Chu Xa làm tiếp, đến năm 1459 hoàn tất, nhờ Lý Tử Tấn hiệu đính, phê điểm rồi khắc in.
- Bản gốc VATT, cũng như TVTL đã thất lạc. Năm Bảo Thái, Kỷ Dậu (1729), một nhóm người có tâm huyết đã cùng nhau khắc in lại. Nay còn giữ lại được một văn bản in nhưng không đầy đủ (A. 1925). Sách có một bản chép tay năm Tự Đức thứ 34 (1881)(A.3038) và một bản chép tay (đời Nguyễn) ký hiệu R.1629 (TVQG).
- Theo Nguyễn Huệ Chi, Mục lục 1729 cho biết, VATT gồm 7 quyển, với 617 bài thơ (còn theo thống kê từ Mục lục của Trần Văn Giáp, sách có 624 bài thơ của 119 tác giả). Theo khảo sát của chúng tôi, Mục lục có ghi 612 bài của 113 đơn vị tác giả. Theo bài Tựa của Lý Tử Tấn, văn bản có hơn 700 bài. Nhưng trên thực tế Mục lục không phản ánh chính xác con số thực, ví dụ: Trần Thánh Tông 3/5 bài, Trần Minh Tông 12/20 bài. Lê Quý Đôn nói con số đó là 6 quyển, "Sử thần Phan Phu Tiên biên tập, Nguyễn Tử Tấn phê điểm" (Đại Việt thông sử, Nghệ văn chí), ông không nhắc gì đến Chu Xa. Sách sắp xếp theo thứ tự: vua để lên đầu, sau đến quan lại, thiền sư và phụ nữ… để vào phần Phụ lục.
- Hiện trạng văn bản:
+ Bản A.1925: gồm 3 quyển, thiếu quyển IV, V, VI [quyển I, II, III và phần bổ di quyển III] dày 136 trang khổ 24 x 16, in năm Bảo Thái thứ 10 (1729). Văn bản hiện còn gồm 2 bài tựa, Tựa 1 năm Thuận Thiên quý sửu (1433), Tựa 2 vào năm Diên Ninh thứ 6 (1456), một bài Thượng tiến VATT của Chu Xa, một bản Mục lục toàn bộ sách. Theo khảo sát, sách chỉ còn 288 bài thơ của 50 đơn vị tác giả (trong đó có 6 bài thơ khuyết danh).
+ Bản A.3038: 3 quyển và phần Bổ di quyển III, thiếu quyển IV, V, VI, dày 148 trang khổ 26 x 15, chữ viết khá thảo. Qua so sánh thì thấy đây là bản chép lại gần như y nguyên văn bản A. 1925.
+ Bản R. 1629 (TVQG): chép tay, giấy dó cũ, có kiêng huý chữ Tông (宗) nhất loạt đổi ra Tôn (尊), "Thời" (時) đổi ra "Thần" (辰), các chữ huý triều Lê như "Anh" ( ), Trần
( ), "Long"( ) đều đổi lại như bình thường, chữ "quốc triều" (國朝) bị đổi ra thành "Lê triều" (黎 朝). Như vậy, sách chép đời Nguyễn trở về sau (cuối XIX), gồm 96 trang, khổ 29 x 17, gồm một bài biểu Thượng tiến VÂTT của Chu Xa, theo bài biểu thì sách có 6 quyển cộng với một phụ lục, nhưng trong sách không thấy chia quyển, căn cứ vào nội dung sách có thể thấy nó gồm Q1- Q3 và một phần Q4, sách thiếu trang, thơ chép từ đầu đời Trần đến đầu đời Lê, gồm bài của tác giả. Nếu chỉ tính 3 quyển đầu (chép thơ đời Trần- Hồ) thì sách chép 288 bài của 50 đơn vị tác giả. Sách trình bày 9 cột/ trang, tên bài thơ, tác giả viết trồi lên 1 chữ hoặc viết cách ra trong cột. Sách có cước chú sơ lược về tác giả, đôi khi có chú tác phẩm nhưng rất ít. Điều đặc biệt của quyển này là có một phần Q4, gồm 34 bài của 4 tác giả trong đó: Lê Thái Tổ (3 bài), Lê Thái Tông (2 bài), Nguyễn Mộng Tuân (17 bài), Nguyễn Tử Tấn (12 bài, theo chú dẫn thì có 13 bài, nhưng đến giữa bài thứ 12 thì sách bị rách và kết thúc). Tuy nhiên, khảo sát kỹ thì thấy 12 bài này đều là thơ của Nguyễn Mộng Tuân. Vậy, sách chỉ chép được 34 bài thơ của 3 tác giả (trong đó Nguyễn Mộng Tuân có 29 bài). Theo Mục lục của bản A. 1925, Q4 gồm 86 bài của 6 tác giả. Vậy bản này đã lưu giữ được gần nửa Q4 đó. Chúng tôi có đặt nghi ngờ rằng có thể người chép đã lấy phần này từ các bộ thi tuyển khác. Nhưng, từ những nhầm lẫn trong trường hợp thơ Nguyễn Mộng Tuân và Lý Tử Tấn thì có thể thấy khó có chuyện đó. Cũng rất có thể sách mà người chép dùng để sao lại có rách nhiều chỗ. Dù sao, lý giải tất cả các vấn đề trên đây không phải là một việc đơn giản và cần một bài viết khác.
(2). Tinh tuyển chư gia luật thi (TTCG) hay Cổ kim thi gia tinh tuyển, Tinh tuyển chư gia thi tập… do Dương Đức Nhan soạn, Lương Như Hộc hiệu đính, phê điểm vào khoảng giữa thế kỷ XV. Chúng ta chưa rõ soạn xong sách có được in ra ngay không, chỉ biết bản gốc đã thất truyền, , hiện còn giữ được 2 bản: 1 bản sao TTCG ký hiệu A.574; 1 bản in ký hiệu A.2657.
- Theo Lê Quý Đôn, tên sách là Cổ kim thi gia tinh tuyển, sách gồm 15 quyển (Đại Việt thông sử, Nghệ văn chí). Chưa rõ con số này thế nào, có lẽ là chép nhầm. Theo Phan Huy Chú, sách gồm 5 quyển, tập hợp thơ của 13 tác giả Trần, Hồ, Lê sơ gồm 472 bài (Lịch triều hiến chương loại chí, Văn tịch chí). Sách sắp xếp khá lộn xộn, không còn theo trật tự trước sau, tôn ti nữa, dường như có ý nghĩa chống lại quan điểm biên soạn trước đó. Theo Lê Quý Đôn, sách dường như là sự "bổ sung những bài còn thiếu" cho Việt âm thi tập.
- Hiện trạng văn bản:
+ Bản chép tay A.574 có 2 quyển, dày 326 trang mỗi trang 9 dòng (20 chữ), giấy lệnh hội, khổ 31 x 20, chia làm 2 quyển I và II, có ghép cả Phụ Dụ trai tiên sinh thi tập (tác phẩm của một tác giả đời Nguyễn, không tính vào đây). Theo Trần Văn Giáp, sách chép 362 bài của 11 tác giả. Theo Nguyễn Huệ Chi, sách chép 409 bài thơ của 12 tác giả.[Trần Nghĩa ghi 558 bài, có lẽ tính cả thơ của Dụ trai chăng ?] Theo sự khảo sát của chúng tôi thì thống kê của Nguyễn Huệ Chi là đúng. Thống kê của Trần Văn Giáp chẳng những sai về số bài thơ mà còn sót mất 1 tác giả là Lê Bá Quát.
+ Bản in A.2657, mất đầu mất cuối, thiếu sót chỉ còn 2 quyển ( 4 và 5), dày 140 trang khổ 26 x16 với 217 bài thơ của 4 tác giả đời Lê (Nguyễn Trãi: 52; Lý Tử Tấn: 40; Nguyễn Mộng Tuân: 106; Vũ Mộng Nguyên: 19 bài). So với bản A.574, thì phần còn lại của bản này trùng với Q2 của bản trên, cũng gồm 4 tác giả đời Lê, nhưng số lượng bài ở bản in nhiều hơn bản chép tay 73 bài (tức là các bài không có trong bản chép tay). Bên cạnh đó, ở bản chép tay cũng có 3 bài không có trong bản in (đó là 3 bài Hoài lộc, Tặng quốc tử tế tửu Nguyễn Công trí chức [vinh quy] và Du hồ của Nguyễn Mộng Tuân,). Bao giờ ta cũng ưu tiên cho bản in vì nó có độ tin cậy cao hơn bản chép tay. Hơn nữa như ta thấy, bản chép tay chính ra đã chép từ bản in theo đúng thứ tự các tác giả và các bài thơ, nhưng có bỏ sót một lượng tác phẩm khá lớn (67 bài). Vì vậy, có thể kết luận rằng bài này không có trong bản gốc của TTCG mà rất có thể người chép đã lấy từ sách khác như VATT hay TVTL sang (chúng tôi đã tìm thấy đầy đủ cả 3 bài này trong TVTL, ở VATT ký hiệu R. 1629 thì chỉ mới thấy 1 bài là Hoài lộc). Cộng số bài có ở bản A.574 (409) với số bài dư ở bản in (73 bài) ta được 482 bài. Như vậy, có thể Q1 của bản chép tay chính là 3 quyển đầu của bộ TTCG gồm 5 quyển như Phan Huy Chú đã ghi chép, dù số tác giả và tác phẩm có chênh lệch nhưng không đáng kể. Rất có thể ở phần thơ đời Trần, người chép đã bỏ sót 1 tác giả, từ 9 còn có 8, rồi trong 8 tác giả đó, ông ta lại chép thêm 1 vài bài thơ ở các tập khác mà ông biết sang làm cho con số tác giả và tác phẩm bị sai lệch đi so với bản gốc đã được họ Phan mô tả. Đây là hiện tượng đã xảy ra ở phần 4 tác giả đời Lê (khi so bản in với bản chép tay thấy người chép bỏ sót tới 73 bài nhưng lại chép thêm ở đâu đó vào 3 bài). Tuy nhiên, cũng có thể đặt ra những hoài nghi về ghi chép của Phan Huy Chú. Đây là một vấn đề cực kỳ phức tạp mà hiện thời chúng ta chưa thể giải quyết được.
(3). Trích diễm thi tập (TDTT): Do Hoàng Đức Lương soạn, Ngô Ngọc Can hiệu đính, văn bản soạn trong thời Hồng Đức vì có lời đề tựa năm 1497.
- Hiện văn bản gốc sách này cũng đã thất truyền, phần còn lại cũng thất lạc. Lê Quý Đôn có nhắc đến nhưng đến Bùi Huy Bích, Phan Huy Chú thì không chép gì thêm, chứng tỏ sách đã thất lạc. Gần đây, vụ Bảo tồn bảo tàng mới sưu tầm lại được một bản (năm 1957). Đó là bản mang ký hiệu HN. 279 (và HVE. 8 chép lại của cục Bảo tồn bảo tàng), Viện Hán Nôm chép lại một bản là VHv. 2573, Viện văn học chép lại một bản là HN . 290, Thư viện Quốc Gia có chụp lại một bản ký hiệu R.2248 - 50.
- Theo Lê Quý Đôn, sách có 15 quyển, nhưng đến thời ông chỉ còn không quá 1 nửa (Đại Việt thông sử, Nghệ văn chí; Toàn Việt thi lục, Lệ ngôn). Theo bài Tựa của Hoàng Đức Lương thì sách gồm 6 quyển và phụ chép thơ của ông (25 bài). Theo Mục lục bản hiện còn sách chép 259 bài thơ của tất cả 41 tác giả. Cách sắp xếp của Hoàng Đức Lương (nếu ta tin vào văn bản hiện còn) khá mới mẻ, ông không lâý tiêu chuẩn đẳng cấp xã hội làm thứ tự ưu tiên trong chọn tuyển và sắp xếp, ông sắp xếp bộ hợp tuyển của mình theo thể loại chứ không sắp theo thứ tự vua quan (tất nhiên cũng vì TDTT không tuyển thơ của các vị hoàng đế), cũng không sắp xếp theo triều vua. Cụ thể, ông sắp thành các mục: thơ thất tuyệt, thơ ngũ tuyệt, thơ ngũ ngôn bát cú, thơ thất ngôn bát cú. Do đó một tác giả có thể có mặt hai lần trong các quyển khác nhau.
- Hiện trạng văn bản của TDTT:
+ Văn bản HN. 279 theo Trần Văn Giáp, gồm 6 quyển, đóng chung thành 1 cuốn, chép tay trên giấy bản thường khổ 30 x 16, 104 tr, mỗi trang 10 dòng, mỗi dòng 23 - 24 chữ, chữ viết thảo rõ ràng nhưng viết nhầm nhiều. Sách gồm có 1 tựa của Hoàng Đức Lương, một Mục lục ghi tên các tác giả, một Mục lục ghi tên các bài thơ trong tập từ Q1 đến Q6. Theo Mục lục, sách gồm 259 bài thơ của 41 tác giả. Tuy nhiên, trên thực tế đều tra của chúng tôi (trên bản chụp pilorit bản nói trên, mang ký hiệu R.2248 của Thư viện quốc gia Hà Nội) thì sách chỉ chép được 240 bài thơ (Q1: 34 bài, Q2: 41 bài, Q3: 31 bài,Q 4: 52 bài, Q5: 47 bài, Q6: 35 bài) của 37 tác giả, thiếu đi 19 bài của 6 tác giả (Huyền Quang, Nguyễn Phi Khanh, Lê Cảnh Tuân, Nguyễn Vĩnh Tích, Nguyễn Bành, Nguyễn (?), trong đó 4 tác giả không còn bài thơ nào là 4 tác giả sau). Cũng có một bài thơ chép nhầm của Thái Thuận sang Huyền Quang (bài Long nhãn quả).
+ Văn bản VHv. 2573 có 6 quyển, gồm tựa của soạn giả, một Mục lục, phần thơ ngũ tuyệt - thất tuỵêt, và 25 bài của tác giả. Bản này dày 104 trang, khổ 31 x 23,5, chữ xấu, so với bản HN. 279 không có gì khác. Các dị bản khác chúng tôi không có điều kiện khao sát, vả lại, cũng không cần thiết vì đều là bản chép lại từ bản Hn.279 gần đây.
(4). Hoàng Việt thi tuyển: Soạn giả là Bùi Huy Bích, Nguyễn Tập biên tập và viết tựa. Nguyên tên sách là Lịch đại thi sao, còn tên Hoàng Việt thi tuyển là do Nguyễn Tập, đốc học trấn Sơn Nam, một người học trò của họ Bùi thời Minh Mạng đặt khi in ra. Sách soạn xong vào mùa thu năm Mậu thân (1788) dưới dạng bản thảo, in ở Hy Văn Đường năm Minh Mệnh thứ 6 (1825).
- Kế thừa các nhà sưu tập trước, đặc biệt là Lê Quý Đôn, thầy ông, Bùi Huy Bích chia làm 6 quyển, 562 bài thơ của 167 tác giả được tuyển chọn (Q1: 70 bài, Q2: 102 bài, Q3: 100 bài; Q4: 132 bài; Q5: 99 bài; Q6: 59 bài) [Trần Văn Giáp cho ta con số như thống kê từ Mục lục của chúng tôi: 562 bài thơ của 167 tác giả, Trần Thị Băng Thanh lại cho ta một con số khác: 562 bài thơ của 116 tác giả; Trần Nghĩa và F. Gros cũng cho một con số khác: 526 bài thơ của 193 tác giả, không hiểu vì sao lại có sự chênh lệch về thống kê đến như vậy?]. Các tác giả trong HVTT được sắp xếp theo niên đại, riêng thơ của các hoàng đế thì xếp ở Q1. Phương pháp biên soạn giống với phương pháp của Lê Quý Đôn trong TVTL.
- HVTT hiện có các bản sau: 1) A.3126, bản in, có 12 quyển khổ 29 x 15, 1 tựa, 1 dẫn, 1 mục lục, tổng cộng 292 tr. 2) A.608, bảnin, có 6 quyển, khổ 29 x 15, gồm 1 tựa, 1 dẫn, 1 mục lục, 292 tr. 3) A.2857, bản in, có 6 quyển, khổ 29 x 15, gồm 1 tựa 1 dẫn, 1 mục lục, 292 tr. 4) VHv.49, bản in, đóng làm 2 tập (mỗi tập 3 quyển), gồm 1 tựa, 1 dẫn, 1 mục lục, 292 tr. 5) VHv.1780 in, 6 quyển, 1 tựa, 1 dẫn, một mục lục, 292 tr. 6) VHv.1451, bản in, 6 quyển, khổ 29 x 15, một tựa, một dẫn, một mục lục. 7) VHv.1477, bản in, 6 quyển, 1 tựa, 1 dẫn, 1 mục lục, 295 trang. 8) VHv. 2150, bản in, 4 quyển (từ Q1 - Q4), một tựa, một dẫn, một mục lục, 208 tr. 9) VHv.704, bản in, 3 quyển (từ Q 4 - Q 6), 142 tr. 10) Paris: SA.PD.2322, bản in, 286 tr. 11) Paris: MG.FC.30788 - 89, bản in. 12) TVQG: R.968., 3 quyển (Q1- Q3), 138 tr, 26 x 16, in mộc bản (1825), một tựa, một dẫn, một mục lục.13) TVQG: R.1410, 6 quyển (Q1- Q6), 142 tờ, 26 x 16, in mộc bản (1825), rách tờ đầu, một tựa, một dẫn, một mục lục. 14) TVQG: R. 1903: bản chép tay, chỉ có 10 trang đầu Q1, khổ 29 x 17. 15) TVQG: R292: in năm Minh Mệnh thứ 6 (1825), sách này hiện đã mất…
(5). Minh đô thi vựng (theo Nguyễn Thu trong Việt thi tục biên, Tiểu dẫn) hay Minh đô thi, Minh đô thi tuyển do Bùi Nhữ Tích (? - ?), tự là Phúc, hiệu Khắc Trai cư sĩ, người xã Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì, tỉnh Hà Đông (nay là ngoại thành Hà Nội) soạn. Con trai Bùi Ngạn Cơ hiệu điểm. Sách ra đời vào khoảng đầu thế kỷ XIX.
- Theo nghiên cứu bước đầu của Trần Văn Giáp thì sách chưa từng được in; văn bản gốc đã mất, chỉ còn lại 2 bản sửa chữa biên tập lại bản gốc và một bản không đầy đủ có khả năng gần với bản gốc nhất. Một bản do con trai tác giả là Bùi Ngạn Cơ "nhân sách của cha mà làm gọn lại thành 2 quyển thượng và hạ" (A. 2424). Một bản "cũng là của một người họ Bùi, là một bản khác hẳn, tác giả tuyển lại toàn bộ tập thơ Minh đô thi của Bùi Nhữ Tích làm thành một bộ Minh đô thi tuyển" (A. 2171). Một bản chỉ còn hai quyển cuối (7,8) nhưng khá quan trọng cho việc phục hồi văn bản gốc (VHv. 2392).
- Theo Nguyễn Thu, Minh đô thi vựng có 3 quyển, còn theo bản VHv. 2392 thì sách có 8 quyển, ghi thơ của các tác giả từ thời Lý, Trần cho đến tận đời Nguyễn, chia làm 5 loại: danh thần, thành thần, nho thần, văn thần, xử sĩ. Trong mỗi loại đều có sắp xếp theo thứ tự thời gian. Mỗi tác giả đều có cước chú sơ lược về hành trạng, tiểu sử. Các văn bản hiện còn chỉ có bản VHv.2392 còn giữ được kết cấu này, các văn bản khác đã bị sửa đổi nhiều theo lối làm thi tuyển trước đó.
+ Minh đô thi (A. 2424), có 2Q, chép tay trên giấy bản thường khổ 28 x 16, 140 tr, trang 8 dòng, mỗi dòng 28 chữ, chữ chân phương dễ đọc, không có tựa dẫn gì, chỉ có đề tên tác giả là Hà Thanh, Bùi gia (Liên Khê cư sĩ, Cơ phủ) biên tập". Quyển thượng chép 196 bài thơ (theo Mục lục) của 41 tác giả từ đời Trần đến đời Tây Sơn (với Đoàn Nguyễn Tuấn). Quyển hạ chép 180 bài thơ (theo Mục lục) của 29 tác giả (Trần Văn Giáp ghi là 27 tác giả) từ đời Trần đếm cuối đời Lê (sách đến tờ 79 thì bị rách). Tổng cộng 376 bài thơ của 70 tác giả. Theo Trần Văn Giáp, bản này là bản MĐT của Bùi Ngạn Cơ, nhân sách của cha mà làm gọn thành 2 quyển thượng, hạ.
+ Minh đô thi tuyển (A. 2171) có hai quyển, chép tay giấy lệnh hội khổ 28 x 20, dày 128 trang, không có đầu đuôi, không đề tên tác giả. Q1 (24 tờ), 21 tác giả là vua, chúa, hoàng thân các đời Trần - Lê, gồm 87 bài (ngoài ra, còn phần phụ lục chép 1 bài thơ của một người tên là Đường Vương Quyết, là một người trong hoàng tộc nhà Lê) . Nếu tính cả phụ lục này thì con số phải là 88 bài của 22 tác giả (?). Q2, chép 73 bài của 13 tác giả là các văn thần, võ tướng đời Trần, Lê (ví dụ Phạm Ngũ Lão, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Trãi…). [Ngoài ra còn có một phần chép Nhuế Xuyên tập (32 bài) và 10 bài thơ của 9 tác giả khác như : Nguyễn Tông Vỹ, Nguyễn Đình Viên…Theo khảo sát của chúng tôi thì một số trong các tác giả này đã có mặt trong bản Minh đô thi A. 2424, vì vậy chúng tôi xem đây cũng là một phần của bản MĐTT]. Tổng cộng có 193 bài của 44 tác giả. Theo Trần Văn Giáp, đây là bản khác hẳn với bản trên, có lẽ do một người nhà họ Bùi tuyển lại bộ MĐTV của Bùi Nhữ Tích, có thể người soạn đã tham khảo và lấy tư liệu từ các sách khác như VATT, TTCG, TVTL...
+ Minh đô thi vựng (VHv.2392): chỉ có 2 quyển (Q7 và Q8) và phần Tục biên, chép tay trên giấy bản thường còn rất tốt, ở giữa các tờ còn có giấy lót để bảo vệ, khổ 26x18 cm, dày 214 trang. Phần đầu mỗi quyển đều có ghi: Tên tập (chữ lớn) Minh đô thi vựng, rồi đến dòng chữ "Thịnh Liệt Bùi gia" (Họ Bùi ở Thịnh Liệt) (cỡ vừa) và hai dòng chữ song song: "Nhữ Tích Khắc Trai thị biên tập/ Nhi Ngạn Cơ Ôn Như bút đính". (Bùi Nhữ Tích, hiệu Khắc Trai biên tập/ Con Bùi Ngạn Cơ, hiệu Ôn Như hiệu đính) (chữ nhỏ). Q7 chép thơ của các "văn thần" (phần hạ), gồm 230 bài của 39 tác giả từ thời Tiền Lê đến cuối đời Lê. Q 8 chép thơ của các "xử sĩ", gồm 209 bài thơ của 38 tác giả từ thời Lý đến cuối đời Lê. Phần Tục biên chép 6 bài thơ của Bùi Nhữ Tích. Cuối sách là một bài Bạt của Bùi Ngạn Cơ con trai Bùi Nhữ Tích. Căn cứ vào hình thức sách, cách viết (ví dụ dùng chữ "hoàng triều") và chữ huý (sách có kiêng huý chữ "Tông" (宗), viết bớt nét thành ( ), căn cứ nội dung sách (bài Bạt) thì có thể thấy đây là văn bản đầu đời Nguyễn mà cụ thể là dưới triều Thiệu Trị. So với 2 văn bản trên, đây là văn bản cổ nhất, và theo linh cảm của Trần Văn Giáp thì "bản này khá quý, có lẽ là bản độc nhất, còn giữ được tự tích của con tác giả, chép và sửa lại". Theo chúng tôi, đúng là như vậy. Căn cứ vào cơ cấu văn bản thì thấy, đây là phần cuối của bộ Minh đô thi vựng (vì nó có phần Tục biên chép thơ của soạn giả, bài Bạt, quyển 8 cũng chép đến phần thơ của "xử sĩ" loại cuối trong bang phân loại của soạn giả) gần với nguyên bản của Bùi Nhữ Tích nhất mà Nguyễn Thu đã mô tả trong Việt thi tục biên, Tiểu dẫn. Chỉ có điều nếu theo Nguyễn Thu thì MĐTV chỉ có 3 quyển, còn ở đây có đến 8 quyển. Có thể Nguyễn Thu nhầm, con số 8 khá chuẩn xác (như dưới đây sẽ chứng minh). Theo Nguyễn Thu, Bùi Nhữ Tích chia các nhà thơ thành 5 loại: danh thần, thành thần, nho thần, văn thần, xử sĩ. Quyển 7 và 8 cho ta gần đủ 2 loại: văn thần và xử sĩ. Chỉ chưa đầy hai loại này thôi đã cho ta 439 bài. Cứ theo đó mà tính thì cả bộ MĐTV phải có tới khoảng trên nghìn bài. Quả vậy, đọc bài bạt của Bùi Ngạn Cơ, ta thấy ông mô tả rất rõ công trình của cha, khi gom góp lại "di thảo còn được mười mấy quyển sách, chỉ riêng trong tuyển thơ thôi cũng đã có đến hơn 1 nghìn năm trăm (bài)" (di thảo thập số quyển, nội thi tập phàm thiên hữu ngũ bách dư). Vậy, con số 8 quyển của bộ MĐTV là hoàn toàn có thể chấp nhận được. Hơn thế nữa, diện mạo của sách chưa bị thay đổi nhiều như 2 quyển trên, phù hợp với sự mô tả của Nguyễn Thu. Đây là bản gần với bản gốc (đã mất) của Bùi Nhữ Tích nhất.
(6). Việt thi tục biên: Do Nguyễn Thu (1799 - 1855), còn có tên là Nguyễn Bảo soạn vào khoảng đầu đời Nguyễn (thế kỷ XIX). Sách chưa được in, hiện chỉ còn có 2 bản viết: A. 1036 và VHv. 92 tàng trữ tại Viện nghiên cứu Hán Nôm.
- Sách gồm 2 quyển, một Mục lục, một tiểu dẫn và phần chính, chép 583 bài thơ của 58 tác giả và những người nổi tiếng ở Viêt Nam từ đời Mạc đến cuối Lê [tiếp theo VATT, TVTL], xếp theo thế thứ trước sau, lấy cổ thể, cận thể làm tiêu chuẩn, lấy từng thi gia làm đơn vị. Mỗi thi gia đều có chú thích tên họ, quê quán, tác phẩm. Đây là cách sắp xếp mang tính tổng hợp, kế thừa kinh nghiệm của hầu như tất cả các bộ thi tuyển trước đó.
- Hiện trạng văn bản:
+ Bản A.1036, là một bản chép tay trên giấy dó cũ, gồm 140 tờ, khổ 31 x 21, mỗi một trang viết 9 cột chữ Hán, mỗi cột khoảng 18 đến 20 chữ. Xét niên đại thì thấy sách kiêng huý chữ "Tông" (宗) viết bớt nét thành( ) nhưng không kiêng huý chữ "Thời", thì có thể phỏng đoán sách có nguồn gốc từ đầu đời Nguyễn và là một bản khá cổ. Bản này chia làm 3 quyển: đầu Q1 có hai Mục lục của quyển 1 và 2, một bài Tiểu dẫn do Nguyễn Thu viết. Theo Mục lục thì Q1 chép 165 bài thơ của 27 tác giả, nhưng khảo sát trên thực tế chúng tôi thấy Q1 chép 167 bài thơ của 28 tác giả (tác giả bị bỏ sót ở Mục lục là Nguyễn Công Thái); Q2 chép 239 bài thơ của 14 tác giả, Q3 chép 178 bài của 17 tác giả. Tổng cộng bản này chép được 584 bài thơ của 59 tác giả từ thời Mạc đến cuối đời Lê [Trần Văn Giáp thống kê được 583 bài của 58 thi gia, sót 1 tác giả với 1 bài thơ là Nguyễn Công Thái], trong đó 2 tác giả được chép nhiều thơ nhất là Lê Quý Đôn (51 bài) và Bùi Huy Bích (101 bài).
+ VHv.92 là bản chép tay, chép trên một cuốn sách in sẵn cột thứ, dày 56 tờ khổ 27,5 x 16 cm, chữ đẹp, hơi đá thảo, mỗi trang chia làm 9 cột mỗi cột khoảng 28 chữ. Gáy sách có đề "Long Cương tàng bản" chứng tỏ đây là sách do gia đình họ Cao Xuân thuê chép vào khoảng cuối XIX đầu XX, mới hơn bản trên. Chính vì vậy, bản này cũng chép ít thơ hơn bản trên (các bài thơ có trong bản này thì đều có trong bản trên) và trật tự có khác. Sách không có Mục lục, chỉ có 1 tiểu dẫn như sách trên và chỉ có 2 quyển. Q1 chép 135 bài thơ của 29 tác giả. Q2 chép 211 bài thơ của 11 tác giả. Tổng cộng sách chép 346 bài thơ của 40 tác giả. Qua so sánh với bản trên ta thấy, có 2 tác giả bị bỏ không chép là Nguyễn Huy Oánh và Nguyễn Hành, một số tác giả cũng bị bỏ bớt một số bài thơ đi (như Nguyễn Dữ, Nguyễn Tông Quai…). Có 3 nhà thơ ở bản A. 1036 nằm ở Q2 (là Nhữ Công Chấn (hay Thiến), Phạm Nguyễn Du, Lê Huy Trâm) sang bản VHv. 92 lại nằm ở Q3. Sách lại không có hẳn Q3. Có thể nói bản này là dị bản không đầy đủ của bản A. 1036.
Đến đây có thể hình dung tổng hợp quy mô của các thi tuyển qua bảng thống kê so sánh dưới đây:
STT Tên sách Tác giả Số tác giả Số tác phẩm Ghi chú
1 VATT (3Q) Phan Phu Tiên, Chu Xa 50 288 theo A.1925
2 TTCGLT (2Q), Dương Đức Nhan 12 409 Theo A.574
3 TDTT (6Q) 41 240 Theo
HN. 279
4 TVTL (15 quyển đầu) Lê Quý Đôn 173 2457 Vănbản xác lập mới
5 HVTT (6Q), Bùi Huy Bích 176 562 Theo
ML A.608
6 MĐTV(2Q), Bùi Nhữ Tích 70 376 TheoA.2424
7 VTTB (3Q), Nguyễn Thu 59 584 theoA.1036
Theo mô tả các bản sách như trên, dễ thấy ngoại trừ HVTT đã được khắc in, còn tất cả các thi tuyển chữ Hán của Việt Nam thời trung đại, giống như TVTL, đều có những vấn đề phức tạp về văn bản. Tìm hiểu thơ chữ Hán thời trung đại, theo chúng tôi ngoài việc khảo sát chi tiết nội bộ các văn bản, còn cần phải tiến hành nghiên cứu so sánh các thi tuyển với nhau, để từ đó thấy được tính kế thừa và phát triển của truyền thống thi tuyển Việt Nam. Trong phạm vi của luận án, chúng tôi chưa làm được công việc này. Từ quy mô kết cấu của các thi tuyển, cụ thể là so sánh số lượng tác giả - tác phẩm mà các thi tuyển kế thừa nhau sao chép được, có thể nhận định: TVTL là kết quả của một quá trình lao động tìm tòi công phu, ở một trình độ khoa học tiến bộ nhất thế kỷ 18, mà trước đó các hợp tuyển thi ca của Việt Nam như Việt âm thi tập, Trích diễm thi tập, Tinh tuyển chư gia luật thi…chưa có được. TVTL đồng thời cũng là bộ sách có ảnh hưởng sâu sắc nhất về quan điểm, phương pháp, tư liệu…đối với các hợp tuyển thơ ca sau nó như: Hoàng Việt thi tuyển, Việt thi tuc biên. Như thế, nó cũng là bộ sách quan trọng nhất xét về mặt tư liệu và phương pháp đối với công việc giới thiệu di sản thơ ca trung đại của chúng ta hiện nay.

Thư mục (chưa đầy đủ) về Lê Thánh Tông

TIỂU DẪN
1. Bản thư mục này giới thiệu một cách tương đối có hệ thống các văn bản Hán Nôm, Quốc ngữ, tiếng nước ngoài, các công trình nghiên cứu, thảo luận về Lê Thánh Tông từ các nguồn sách, báo, tạp chí, luận án,... quen thuộc nhất từ trước đến nay. Chắc chắn rằng, đây chưa phải là bản thư mục đầy đủ và không có sai sót. Rất mong quý vị độc giả đóng góp thêm tư liệu để có thể bổ sung và hoàn thiện thêm bản thư mục này khi sách được tái bản.
2. Trong điều kiện cho phép, mỗi đơn vị thư mục sẽ được mô tả theo trình tự sau : Họ và tên tác giả (người bs, chủ biên,...), Tên tài liệu, Nhà xuất bản, Nơi xuất bản, Thời gian xuất bản.
- Thư mục được sắp xếp theo thứ tự bảng chữ cái Latin (a, b, c,...) chữ đầu họ tên tác giả hoặc chữ đầu tên tài liệu.
- Một tài liệu do nhiều người viết chung sẽ chỉ đăng kí thư mục một lần căn cứ vào tên người đứng đầu hoặc chủ biên.
3. Các chữ viết tắt dùng trong bảng Thư mục :
- H: Hà Nội
- Tp: Thành phố
- S: Sài Gòn
- Nhà xuất bản: Nxb
- Chủ biên: Cb
- Bs: Biên soạn
- St - Gt: Sưu tầm và giới thiệu.
- T/c: Tạp chí
- Tài liệu đã dẫn: Tlđd

I – TÀI LIỆU HÁN - NÔM(() Phần này chúng tôi soạn theo sách Di sản Hán Nôm Việt Nam – thư mục đề yếu, 3 tập (Trần Nghĩa & Francois Gros đồng chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, H, 1993. Còn một số văn bản Hán Nôm nữa đã được dịch ra quốc ngữ (chẳng hạn, Đại Việt sử kí toàn thư, v.v…) chúng tôi sẽ không đưa vào phần này mà đưa vào phần tài liệu tiếng Việt cho tiện tra cứu chung.)
1. An Nam địa chí, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.381.
2. Bình Nam chỉ chưởng nhật đồ, Thư viện Quốc gia Paris, SA.HM.2207.
3. BÙI HUY BÍCH (BS) Hoàng Việt thi tuyển, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A. 3162,…
4. BÙI HUY BÍCH (BS) Hoàng Việt văn tuyển, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.3163,…
5. BÙI NHỮ TÍCH (BS) Minh đô thi vựng, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, VHv.2392; A.2424; A.2171.
6. Cầu Không sự tích, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, VHv.2942.
7. Chinh Chiêm nhật trình, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.611.
8. Chư dư tạp biên, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, VHv.1729.
9. Cúc Đường bách vịnh thi tập, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.1168.
10. LÊ MỘNG LONG (BS) Danh sơn thắng thủy thi, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.339.
11. Đại Nam văn tập, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.317.
12. Địa dư chí thi tập, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.1231.
13. Đoán từ thể thức, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.1983.
14. Hàn các tùng đàm, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.768/ 1-2.
15. Hoàng Lê hoàng các di văn, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, VHv.1129/1-8; A.1910; A.543.
16. Hoàng Việt tùng vịnh, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.349.
17. Khảo cổ ức thuyết, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, VHv.244.
18. Kì quan thi, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, VNv.267.
19. La Tổ truyện, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.2560.
20. LÊ QUÝ ĐÔN (BS) Toàn Việt thi lục, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.1262; v.v…
21. LÊ THÁNH TÔNG Cổ tâm bách vịnh, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.702.
22. LÊ THÁNH TÔNG Lê Thánh Tông thi, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, AB. 411.
23. LÊ THÁNH TÔNG Lê Thánh Tông Thuần hoàng đế cận thể thi, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, VHv.1010.
24. LÊ THÁNH TÔNG Thánh Tông di thảo, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.202.
25. Lê triều danh nhân thi tập, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, VNv.152.
26. Lê triều quan chế, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, VHv.1691; A.51.
27. Lê triều quan chế điển lệ, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.56/1-2; A382.
28. Lĩnh Nam quần hiền văn thi diễn âm tập, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, AB.398.
29. LƯU CÔNG ĐẠO (BS) Thanh Hóa Vĩnh Lộc huyện chí, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, VHv.1372/a-b.
30. Minh lương cẩm tú, , Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.1413; A.254; VHv.94…
31. Nam âm thảo, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, 1961.
32. Nghệ An Hà Tĩnh sơn thủy vịnh, , Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, VHv.1790.
33. NGUYỄN CÔNG BẬT (BS) Đội Sơn tự bi, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.854.
34. NGUYỄN MIÊN THẨM Thương Sơn thi thoại, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, VHv.105
35. NGUYỄN THU (BS) Việt thi tục biên, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.1036; VHv.92.
36. Ninh Bình sự tích, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.1406.
37. PHAN DƯỠNG HẠO (BS) Cẩm Đình thi văn toàn tập, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, VHv.1426; A.1385.
38. PHAN DƯỠNG HẠO (BS) Cẩm Đình văn tập, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, VHv.638; VHv.262.
39. Quảng Ngãi tỉnh nữ học trường, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, VHb.62.
40. Quốc văn tùng kí, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, AB.383.
41. Tây Nam biên tái lục, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.490/1-2.
42. Thi sao, Thư viện Quốc gia Paris, SA.Ms.b.20.
43. Thi từ ca đối sách văn tạp sao, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, VNv.155.
44. Thiên Nam dư hạ tập, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.334/1-10; VHv.1313/a-b.
45. Thiên Nam hình thắng minh lương di mặc lục, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.952.
46. Thiên Nam quốc ngữ lục kí, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, AB.315.
47. Thiên Nam tứ tự, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.238…
48. Thịnh Lê thi tập, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, VHv.1455.
49. Thông quốc duyên hải chử, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.79.
50. Tiên chính cách ngôn, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.1524
51. Trung Kì địa dư lược sao, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.2516.
52. Việt dư kỉ thắng, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.769.
53. Việt Nam sơn hà hải động thưởng vịnh, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.1699.
54. Việt túy tham khảo, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, AB.386.
55. Vĩnh Lộc huyện phong thổ chí, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, A.2537.
56. VƯƠNG DUY TRINH (BS) Thanh Hóa kỉ thắng, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, VHv.1372/b; VHv.1242.

II – TÀI LIỆU TIẾNG VIỆT
57. BAN TỔ CHỨC CÁN BỘ CHÍNH PHỦ Luật Hồng Đức về quy định hành vi của các quan chức thế kỉ XV – XVIII ở nước ta, T/c Tổ chức nhà nước, số 2 – 1995.
58. BÙI DUY DÂN Cảm hứng dân tộc – cảm hứng nhân văn qua thơ Nôm vịnh sử của Lê Thánh Tông, T/c Văn học, số 8 – 1997.
59. BÙI DUY TÂN Giáo trình lịch sử văn học Việt nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XVIII, Nxb Giáo dục, H, 2005.
60. BÙI DUY TÂN Hội Tao Đàn, Quỳnh Uyển cửu ca và vai trò Lê Thánh Tông, T/c Văn học, số 1 – 1993.
61. BÙI DUY TÂN Hồng Đức Quốc âm thi tập, một tác phẩm lớn của văn học tiếng Việt thế kỉ XV, T/c Văn học, số 4 – 1983
62. BÙI DUY TÂN Khảo và luận một số thể loại – tác gia – tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, tập 1, Nxb Giáo dục, H, 1999.
63. BÙI DUY TÂN Khảo và luận một số thể loại – tác gia – tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, tập 2, Nxb Đại học Quốc gia, H, 2001.
64. BÙI DUY TÂN Lê Thánh Tông – nhà Trung Quốc học, người tiếp thu có sáng tạo văn hoá, văn học Trung Quốc, T/c Nghiên cứu Trung Quốc, số 6– 1997.
65. BÙI ĐỨC TỊNH Lược khảo lịch sử văn học Việt Nam, từ khởi thủy đến cuối thế kỉ XIX, Nxb Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh, 2005.
66. BÙI KỶ Quốc văn cụ thể, Tân Việt Nam thư xã, H, 1932.
67. BÙI THANH PHƯƠNG Mối quan hệ tam giáo qua thơ chữ Hán của Lê Thánh Tông, T/c Triết học, số 6-2005.
68. BÙI THIẾT Vua chúa Việt Nam, Nxb Văn hoá thông tin, H, 1995.
69. BÙI VĂN NGUYÊN Chủ nghĩa yêu nước trong văn học thời kì khởi nghĩa Lam Sơn, Nxb Khoa học xã hội, H, 1980.
70. BÙI VĂN NGUYÊN –
PHẠM SĨ TẤN Giáo trình văn học Việt Nam, tập 2, Nxb Giáo dục, H, 1961.
71. BÙI VĂN NGUYÊN Lịch sử văn học Việt Nam, tập 2, văn học viết thời kì I, các giai đoạn I, II, III, tái bản lần 5, Nxb Giáo dục, H, 1978.
72. BÙI VĂN NGUYÊN Tao Đàn nguyên suý, một chân dung về Lê Thánh Tông, (truyện lịch sử), Nxb Văn hoá, H, 1991.
73. BÙI VĂN NGUYÊN (CB) Tổng tập văn học Việt Nam, tập 5, Nxb Khoa học xã hội, H, 1995.
74. BÙI VĂN NGUYÊN – NGUYỄN SĨ CẨN –
HOÀNG NGỌC TRÌ Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến giữa thế kỉ XVIII, Nxb Giáo dục, H, 1989.
75. CAO VIỆT ANH Đế vương xuân thu, Nxb Lao Động, H, 1998.
76. CHU THIÊN Lê Thánh Tông, T/c Nhà văn mới, H, 1943.
77. Chùa Thầy (tập thơ nhiều tác giả), Ty văn hoá Hà Sơn Bình, 1977.
78. DƯƠNG QUẢNG HÀM Việt Nam thi văn hợp tuyển, Trung tâm học liệu, bộ Giáo dục quốc gia xuất bản, S, 1973.
79. DƯƠNG QUẢNG HÀM Việt Nam văn học sử yếu, Nxb Hội nhà văn, H, 1996, tb theo đúng bản in lần đầu.
80. Đại Việt sử kí tiền biên (Viện Hán Nôm dịch), Nxb Khoa học xã hội, H, 1997.
81. Đại Việt sử kí toàn thư (Cao Huy Giu dịch), Nxb Khoa học xã hội, H, 1971.
82. Đại Việt sử kí toàn thư, (Tổ tư liệu Viện Sử học dịch), 4 tập, Nxb Khoa học xã hội, H, 1994.
83. ĐÀO DUY ANH Lịch sử Việt Nam: từ nguồn gốc đến cuối thế kỉ XIX, Nxb Văn hoá, H, 1958.
84. ĐẶNG THANH LÊ Về giai đoạn khai sáng thơ Nôm Đường luật – cảm hứng lịch sử qua thơ Lê Thánh Tông, T/c Văn học, số 5 – 1996.
85. ĐINH GIA KHÁNH –
BÙI VĂN NGUYÊN – NGUYỄN NGỌC SAN Hợp tuyển thơ văn Việt Nam, tập 2, Nxb Văn hóa, H, 1962.
86. ĐINH GIA KHÁNH –
BÙI DUY TÂN –
MAI CAO CHƯƠNG Văn học Việt Nam (thế kỉ X - nửa đầu thế kỉ XVIII, Nxb Giáo dục, H, 2000, tb.
87. ĐINH GIA KHÁNH Văn học cổ Việt Nam, tập 1, Nxb Giáo dục, H, 1964.
88. ĐINH VĂN MINH Một bài thơ hay của Thiên Nam động chủ bị bỏ quên, T/c Hán Nôm, số4-2002.
89. ĐINH XUÂN LÂM –
TRƯƠNG HỮU QUÝNH (CB) Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, H, 2005.
90. ĐỖ LAI THUÝ Lê Thánh Tông – nhà nho, hoàng đế, thi nhân, T/c Văn hoá nghệ thuật, số 8- 2003.
91. ĐỖ LAI THÚY Lê Thánh Tông – người quân tử thời trị, in trong Văn hoá Việt Nam nhìn từ mẫu người văn hoá, Nxb Văn hoá thông tin, H, 2005.
92. Hà Nam cảnh sắc, Nxb Lao động, H, 2001.
93. HÀ NHẬM ĐẠI Thánh Tông Thuần hoàng đế, trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 6, (Bùi Văn Nguyên cb), Nxb Khoa học xã hội, H, 2000.
94. HÀ NHƯ CHI Việt Nam thi văn giảng luận, (từ khởi thuỷ đến cuối thế kỉ XVIII), Nxb Tân Việt, S, 1951.
95. HÀ XUÂN LIÊM (BS) Thơ Việt Nam – thơ Nôm Đường luật từ thế kỉ XV đến thế kỉ XIX, Nxb Thuận Hóa, Huế, 1997.
96. HOÀNG LÊ Một tấm bia nói về Ngô Thị Ngọc Dao, T/c Hán Nôm, số 1 –1993.
97. HOÀNG NGỌC PHÁCH –
KIỀU THU HOẠCH Giai thoại văn học Việt Nam, Nxb Văn học, H, 2001, tb.
98. HOÀNG SƠN CƯỜNG Tư duy văn hoá gia đình của Lê Thánh Tông trong Quốc triều hình luật, T/c Văn hoá nghệ thuật, số 7 – 1997.
99. HOÀNG XUÂN HÃN (BS) Thi văn Việt Nam, (từ đời Trần đến cuối đời Mạc), Nxb Sông Nhị, H, 1951.
100. HỒ SĨ HIỆP (BS) Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm (tủ sách văn học trong nhà trường), Nxb Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh, 1997.
101. Hồng Đức bản đồ, (Bửu Cầm… dịch & giới thiệu), Bộ quốc gia giáo dục xuất bản, S, 1962.
102. Hồng Đức quốc âm thi tập, (Phạm Trọng Điềm, Bùi Văn Nguyên phiên chú), Nxb Văn hoá, H, 1962.
103. Hồng Đức quốc âm thi tập, (Phạm Trọng Điềm, Bùi Văn Nguyên phiên chú), tái bản lần 2, Nxb Giáo dục, H, 1982.
104. Hồng Đức thiện chính thư, (Nguyễn Sĩ Giác dịch), Nxb Nam Hà, S, 1959.
105. Hồng Đức thiện chính, (Trương Đình Nguyên dịch), H, 1974, Thư viện Viện Văn học, D.166.
106. HỒNG PHI – HƯƠNG NAO Về bài thơ chữ Hán của Thiên Nam động chủ đề ở động Long Quang (Thanh Hóa), T/c Hán Nôm, số2-2001.
107. Kỉ yếu hội thảo về hoàng đế Lê Thánh Tông (1442 – 1497) Trường ĐH Hồng Đức, Nxb Thanh Hoá, 2002.
108. KIỀU VĂN (BS) Thơ Nôm Lê Thánh Tông & Hội Tao Đàn, Nxb Đồng Nai, 2000.
109. LÃ NHÂM THÌN Bình giảng thơ Nôm Đường luật, Nxb Giáo dục, H, 2002.
110. LÃ NHÂM THÌN Quá trình phát triển của thơ Nôm Đường luật từ Nguyễn Trãi đến Hồ Xuân Hương, Luận án Phó tiến sĩ, H, 1996.
111. LÃ NHÂM THÌN Thơ Nôm Đường luật (chuyên luận), Nxb Giáo dục, H, 1997.
112. LẠI NGUYÊN ÂN –
BÙI VĂN TRỌNG CƯỜNG Từ điển văn học, quyển I (từ nguồn gốc đến hết thế kỉ XIX), Nxb Giáo dục, H, 1995.
113. LÂM GIANG (CB) Hội Tao Đàn – tác giả & tác phẩm, Nxb Khoa học xã hội, H, 1993.
114. LÂM GIANG Bước đầu tìm hiểu về Hội Tao Đàn, T/c Hán Nôm, số 2- 1987.
115. LÊ BÁ CHỨC Hoàng thái hậu sinh vua Lê Thánh Tông, Nxb Thanh Hoá, 2001.
116. LÊ CHÍ DŨNG Tính cách Việt Nam trong thơ Nôm luật Đường, Nxb Văn học, H, 2001.
117. LÊ ĐÌNH KẾ Mẹ hiền con thánh, (tiểu thuyết lịch sử) trích dịch Lam Sơn kí, Nhà in Tiến Thịnh, H, 1953.
118. LÊ ĐỨC TIẾT Lê Thánh Tông, vị vua anh minh, nhà canh tân xuất sắc, Nxb Quân đội nhân dân, H, 1979.
119. LÊ KIM NGÂN Tổ chức chính quyền trung ương dưới triều Lê Thánh Tông (1460 – 1497), Bộ quốc gia giáo dục xuất bản, S, 1963.
120. LÊ NGÔ CÁT –
PHẠM ĐÌNH TOÁI Đại Nam quốc sử diễn ca, (Đinh Xuân Lâm, Chu Thiên phiên chú), Nxb Văn học, H, 1966.
121. LÊ QUÝ ĐÔN
Lê Quý Đôn toàn tập, tập 3 (Lê triều thông sử) (Ngô Thế Long dịch), Nxb Khoa học xã hội, H, 1978.
122. LÊ SĨ THẮNG -
HÀ THÚC MINH Lời giới thiệu trong Thánh Tông di thảo, Nxb Văn hoá, H, 1963.
123. LÊ THÁNH TÔNG Cổ tâm bách vịnh, (Mai Xuân Hải biên khảo, dịch, chú giải), Nxb Văn học, H, 2000.
124. LÊ THÁNH TÔNG Chinh tây kỉ hành, (Trương Đình Nguyên dịch, chú thích, giới thiệu), Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, Bt.151.
125. LÊ THÁNH TÔNG Lê Thánh Tông – thơ, (Lâm Giang dịch), Nxb Kim Đồng, H, 2001.
126. LÊ THÁNH TÔNG Thánh Tông di thảo, (Nguyễn Bích Ngô dịch), Nxb Văn hóa, H, 1963.
127. LÊ THÁNH TÔNG Thơ Lê Thánh Tông, (Nguyễn Văn Bến dịch), tài liệu inrônêô, Thư viện Viện Văn học, D.1212.
128. Lê Thánh Tông – con người & sự nghiệp, (Hội thảo khoa học kỉ niệm 500 năm ngày mất của Lê Thánh Tông), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1997.
129. Lê Thánh Tông (truyện tranh, tủ sách “Bé học sử Việt”), Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh, 2004.
130. Lê triều hình luật: luật Hồng Đức triều Lê, (Nguyễn Quang Thắng dịch), Nxb Văn hoá thông tin, H, 1997.
131. Lê triều quan chế (Viện Sử học dịch), Nxb Văn hoá thông tin, H, 1977.
132. LÊ THỊ SƠN (CB) Quốc triều hình luật: lịch sử hình thành, nội dung và giá trị, Nxb Khoa học xã hội, H, 2004.
133. LÊ THU YẾN (CB) Văn học Việt Nam, văn học trung đại, những công trình nghiên cứu, Nxb Giáo dục, H, 2002.
134. LÊ VĂN SIÊU Lịch sử văn học Việt Nam: từ thượng cổ đến hiện đại (11 tập), Nxb Thế giới, H, 197?
135. LÊ VĂN SIÊU Việt nam văn minh sử cương (văn minh đời Hồng Đức đến đời Nguyễn), Nxb Thanh niên, H, 2004.
136. LÊ VĂN UÔNG Lê Lợi qua bài “Lam Sơn lương thuỷ” của Lê Thánh Tông, trong Kỷ yếu Lê Lợi (1385 – 1433) và Thanh Hoá trong khởi nghĩa Lam Sơn, Nxb Thanh Hoá, 1988.
137. Lí Tế Xuyên, Vũ Quỳnh, Kiều Phú, Lê Thánh Tông, Ngô Chi Lan, Nguyễn Bỉnh Khiêm (Tuyển chọn những bài phê bình, bình luận văn học của các nhà văn, nhà nghiên cứu), Nxb Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh, 1998.
138. Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, H, 1975.
139. LƯU SƠN MINH (BS) Truyện không nên đọc lúc giao thừa (tuyển tập truyện ma Việt Nam), Nxb Văn học, H, 2003.
140. MAI XUÂN HẢI Bài văn khuyên chăm học của vua Lê Thánh Tông, T/c Hán Nôm, số 2-1992.
141. MAI XUÂN HẢI –
BÙI DUY TÂN Lại bàn về hội Tao Đàn, T/c Hán Nôm, số 2-1997.
142. MAI XUÂN HẢI Lê Thánh Tông & tập thơ Cổ tâm bách vịnh, T/c Hán Nôm, số 1 – 2000.
143. MAI XUÂN HẢI (BS) Lê Thánh Tông – thơ văn & cuộc đời, Nxb Hội nhà văn, H, 1998.
144. MAI XUÂN HẢI Lê Thánh Tông và thơ chữ Hán – in trong Lê Thánh Tông – thơ văn & cuộc đời, Tlđd.
145. MAI XUÂN HẢI (CB) Thơ chữ Hán Lê Thánh Tông, Nxb Văn học, H, 2003.
146. MAI XUÂN HẢI (CB) Thơ văn Lê Thánh Tông, Nxb Khoa học xã hội, H, 1986.
147. MAI XUÂN HẢI Tình hình văn bản thơ chữ Hán Lê Thánh Tông, T/c Hán Nôm. số 1-1993.
148. MAI HỒNG Về nơi sinh của Lê Thánh Tông & dòng họ Đinh trên đất Thái Bình, T/c Nghiên cứu lịch sử, số 3-1998.
149. MINH CHÍNH Mấy ý kiến về bài “Về nơi sinh của Lê Thánh Tông & dòng họ Đinh trên đất Thái Bình, T/c nghiên cứu lịch sử, số 5 – 1999.
150. NGÔ TẤT TỐ Việt Nam thi văn bình chú, cuốn thứ nhất Lê Mạc, Tây Sơn (từ thế kỉ XV - đầu thế kỉ XIX), Mai Lĩnh xuất bản, H, 1952.
151. NGÔ TỰ LẬP (TUYỂN CHỌN & GIỚI THIỆU) Đêm bướm ma (tuyển tập truyện ma Việt Nam), Nxb Văn học, H, 1998.
152. NGUYỄN DUY HINH
Người Việt Nam với Đạo giáo, Nxb Khoa học xã hội, H, 2003.
153. NGUYỄN DUY QUÝ Lê Thánh Tông – nhà chính trị tài năng, nhà văn hoá lớn, T/c Văn học, số 1-1993.
154. NGUYỄN ĐĂNG MẠNH – BÙI DUY TÂN –
NGUYỄN NHƯ Ý (CB) Từ điển tác giả - tác phẩm văn học Việt Nam dùng cho nhà trường, Nxb Đại học Sư phạm, H, 2003.
155. NGUYỄN ĐĂNG NA Đặc điểm văn học trung đại Việt Nam: những vấn đề văn xuôi tự sự, Nxb Giáo dục, H, 2003
156. NGUYỄN ĐĂNG NA Kinh Dịch trong thơ chữ Hán Lê Thánh Tông, trong Nghiên cứu Chu Dịch, Nxb Văn hoá thông tin, H, 2002.
157. NGUYỄN ĐĂNG NA Sự phát triển truyện văn xuôi Hán Việt từ thế kỉ X đến cuối thế kỉ XVIII, đầu thế kỉ XIX qua một số tác phẩm tiêu biểu, Luận án PTS, H, 1987.
158. NGUYỄN ĐĂNG NA Một công trình khảo dịch có giá trị về thơ ca Việt Nam nửa cuối thế kỉ XV: Thơ chữ Hán Lê Thánh Tông, T/c Hán Nôm, số2-1995.
159. NGUYỄN ĐĂNG NA Văn xuôi tự sự Việt nam thời trung đại, tập 1, Nxb Giáo dục, H, 1997
160. NGUYỄN ĐỔNG CHI Việt Nam cổ văn học sử, Hàn Thuyên xuất bản cục, H, 1942.
161. NGUYỄN HOÀI VĂN Tìm hiểu tư tưởng chính trị Nho giáo Việt Nam từ Lê Thánh Tông đến Minh Mệnh, Luận án tiến sĩ sử học, H, 2001.
162. NGUYỄN HOÀI VĂN Tìm hiểu tư tưởng chính trị Nho giáo Việt Nam từ Lê Thánh Tông đến Minh Mệnh, Nxb Chính trị quốc gia, H, 2002.
163. NGUYỄN HUỆ CHI Gương mặt văn học Thăng Long, Nxb Văn học, H, 1994.
164. NGUYỄN HUỆ CHI (CB) Hoàng đế Lê Thánh Tông – Nhà chính trị tài năng, nhà văn hoá lỗi lạc, nhà thơ lớn, Nxb Khoa học xã hội, H, 1998.
165. NGUYỄN HUỆ CHI Những vấn đề đặt ra trong Hội thảo khoa học về Lê Thánh Tông, T/c Văn học, số 1- 1993.
166. NGUYỄN HUỆ CHI (CB) Truyện truyền kì Việt Nam, quyển I, Nxb Giáo dục, H, 1999.
167. NGUYỄN HUYỀN ANH Việt Nam danh nhân từ điển, Nxb Khai Trí, S, 1967.
168. NGUYỄN HỮU SƠN - TRẦN ĐÌNH SỬ - (…) Con người cá nhân trong văn học cổ Việt Nam, Nxb Giáo dục, H, 1995.
169. NGUYỄN LANG
Việt Nam Phật giáo sử luận, Nxb Văn học, H, 1999, tb lần 2.
170. NGUYỄN PHẠM HÙNG Văn học Việt Nam: từ thế kỉ X đến thế kỉ XIX, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, H, 2001.
171. NGUYỄN QUANG THẮNG – NGUYỄN BÁ THẾ Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, in lần 5, Nxb Văn hoá, H, 1999.
172. NGUYỄN TÁ NHÍ –
MAI XUÂN HẢI (BS) Những giai thoại về vua Lê Thánh Tông, Nxb Văn hoá dân tộc, H, 1998.
173. NGUYỄN TÀI THƯ Tư tưởng Lê Thánh Tông & triều đại thịnh trị của ông, T/c Triết học, số 6 – 1997.
174. NGUYỄN TÀI THƯ Lê Thánh Tông, thế giới quan và tư tưởng chính trị xã hội, trong lịch sử tư tưởng Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, H, 1993.
175. NGUYỄN VĂN NGỌC
(ÔN NHƯ) Nam thi hợp tuyển, Nxb Bốn Phương, Viện Giáo khoa – Hiên tân biên, H, 1952, tb.
176. PHẠM MẠNH DANH Bút hoa (thơ cổ), Nhà in Phạm Văn Sơn, S, 1962.
177. PHẠM MẠNH PHAN Bài thơ Dệt vải phải chăng của vua Lê Thánh Tông, T/c Tri Tân, số 67.
178. PHẠM MINH HẢO –
BÙI XUÂN MĨ (ST &BS) Các nhà văn kể chuyện cổ tích, 2 tập, Nxb Văn hoá thông tin, H, 1998.
179. PHẠM NGÔ MINH –
LÊ DUY ANH Sự nghiệp Lê Thánh Tông & Lê tộc ở Quảng Nam - Đà Nẵng, Nxb Đà Nẵng, 1999.
180. PHẠM NGÔ MINH –
LÊ DUY ANH Nhân vật họ Lê trong lịch sử Việt Nam, Nxb Đà Nẵng, 2001.
181. PHẠM TÚ CHÂU Thiên nhiên trong thơ chữ Hán Lê Thánh Tông, T/c Văn học số 8 – 1997.
182. PHẠM TUẤN VŨ Thể phú trong văn học Việt nam trung đại, Luận án TS, H, 2002, Thư viện Quốc gia Hà Nội, LA.04.09011.
183. PHẠM VĂN THẮM Nghiên cứu văn bản & đánh giá thể loại truyện truyền kì viết bằng chữ Hán ở Việt Nam thời Trung đại, Luận án tiến sĩ, H, 1996, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, La.77.
184. PHAN DUY KHA –
LÃ DUY LAN –
ĐINH CÔNG VĨ Nhìn lại lịch sử, Nxb Văn hoá thông tin, H, 2003.
185. PHAN ĐẠI DOÃN Vài ý kiến về cải cách của Lê Thánh Tông, T/c Nghiên cứu lịch sử, số 3-1998.
186. PHAN HUY CHÚ
Lịch triều hiến chương loại chí, 3 tập, (Tổ phiên dịch Viện sử học), Nxb Khoa học xã hội, H, 1992.
187. PHAN HUY LÊ Lê Thánh Tông và sự nghiệp của ông trong bối cảnh lịch sử đất nước thế kỉ XV, Núi Bài Thơ - lịch sử & danh thắng, Nxb Quảng Ninh, 1992.
188. PHAN KẾ BÍNH Việt Hán văn khảo, Mặc Lâm xuất bản, S, 1970.
189. PHONG CHÂU –
NGÔ VĂN PHÚ (ST - GT) Phú Việt nam cổ và kim, Nxb Văn hoá, H, 1960.
190. QUỐC CHẤN Những vua chúa Việt Nam hay chữ, Nxb Giáo dục, H, 2004.
191. QUỐC SỬ QUÁN
TRIỀU NGUYỄN Khâm định Việt sử thông giám cương mục, (Viện Sử học dịch), Nxb Giáo dục, H, 1998.
192. Quốc triều hình luật (Viện sử học dịch), Nxb Pháp lí, H, 1991.
193. Song ngữ Hán Việt thi, Nxb Thanh Niên, H, 2000.
194. TẠ NGỌC LIỄN Lê Thánh Tông, một ý chí tự cường lớn, in trong Chân dung văn hoá Việt Nam, Nxb Thanh niên, H, 1999.
195. Tác gia văn học Thăng Long, H từ thế kỉ XI đến giữa thế kỉ XX, Nxb Hội nhà văn, H, 1998.
196. THANH LÃNG Bảng lược đồ văn học Việt nam, quyển thượng nền văn học cổ điển từ thế kỉ XIII đến năm 1862, Nxb Trình bầy, S, 1967
197. THANH LÃNG Văn chương chữ Nôm, Văn hóa, H, 1953.
198. THANH LÃNG Văn học Việt Nam (11 tập), Phong trào văn hoá xuất bản, S, 1963.
199. THANH TÙNG Văn học từ điển, Nxb Khai Trí, S, 1974.
200. THANH XUÂN Vài ý kiến nhỏ về bản phiên âm Hồng Đức quốc âm thi tập, T/c Văn học số 4 – 1975.
201. Thiên Nam minh giám, (Hoàng Thị Ngọ phiên chú), Nxb Văn học, H, 1994.
202. Thiên Nam ngữ lục, 2 tập (Nguyễn Lương Ngọc, Đinh Gia Khánh phiên chú), Văn hoá cục xuất bản, H, 1960.
203. Thơ tình tặng vợ, Nxb Thanh Niên, H, 2003.
204. TRẦN ĐÌNH HƯỢU Lê Thánh Tông và thời thịnh trị của Nho học, in trong Hoàng đế Lê Thánh Tông - Nhà chính trị tài năng, nhà văn hoá lỗi lạc, nhà thơ lớn, Tlđd.
205. TRẦN ĐÌNH HƯỢU
Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb Văn học, H, 1995.
206. TRẦN NGHĨA (CB) Tổng tập tiểu thuyết chữ Hán Việt Nam, (4 tập), Nxb Thế giới, H, 1993.
207. TRẦN NGỌC LÂN (CB) 130 bài thơ tình & những lời bình (tuyển thơ và lời bình), Nxb Thanh niên, H, 2004,
208. TRẦN THỊ BĂNG THANH Những nghĩ suy từ văn học trung đại, Nxb Khoa học xã hội, H, 1999.
209. TRẦN THỊ BĂNG THANH Lê Thánh Tông và các mối dị đoan, in trong Hoàng đế Lê Thánh Tông - Nhà chính trị tài năng, nhà văn hoá lỗi lạc, nhà thơ lớn, Tlđd.
210. TRẦN THỊ BĂNG THANH (CB) Tinh tuyển văn học Việt nam, tập 4, Nxb Khoa học xã hội, H, 2004.
211. TRẦN THỊ TÂM ĐAN Vua Lê Thánh Tông với Thăng Long - Đông Đô - H, T/c Nghiên cứu văn hoá nghệ thuật, số 2 – 1993.
212. TRẦN TRUNG VIÊN (BS) Văn đàn bảo giám, 3 quyển, tb lần 1, Imprimerie Trịnh Văn Bính, H, 1929.
213. TRẦN QUỐC VƯỢNG Về Lê Thánh Tông – mấy điều giải ảo hiện thực lịch sử Việt Nam thế kỉ XV, in trong Văn hoá Việt nam – tìm tòi & suy ngẫm, Nxb Văn hoá dân tộc, H, 2000.
214. TRẦN TRỌNG KIM Việt Nam sử lược, Nhà in Vĩnh Thành, S, 1928.
215. TRẦN VĂN GIÁP Lược truyện các tác gia Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, H, 1971.
216. TRẦN VĂN GIÁP Tìm hiểu kho sách Hán Nôm – nguồn tư liệu văn học sử học Việt Nam tập 1, Nxb Khoa học xã hội, H, 1973
217. TRẦN VĂN GIÁP Tìm hiểu kho sách Hán Nôm – nguồn tư liệu văn học sử học Việt Nam, tập 2, Nxb Khoa học xã hội, H, 1990.
218. TRƯƠNG HỮU QUÝNH Công cuộc cải tổ & xây dựng nhà nước pháp quyền thời kì Lê Thánh Tông, T/c Nghiên cứu lịch sử, số 6 năm 1992, tr 1 – 8.
219. TRƯƠNG HỮU QUÝNH Lê Thánh Tông – con người và sự nghiệp rạng rỡ một thời, T/c Nghiên cứu lịch sử, số 6-1997.
220. TRƯƠNG HỮU QUÝNH -ĐINH XUÂN LÂM –
LÊ MẬU HÃN Đại cương lịch sử Việt Nam, Nxb Giáo dục, H, 2005.
221. TÙNG NIÊN – KÍNH PHỦ Tang thương ngẫu lục, Nxb Văn học, H, 2001.
222. Từ điển văn học, tập 1 (A – M), Viện Văn học, Nxb Khoa học xã hội, H, 1983.
223. Từ điển văn học, (bộ mới) Viện văn học Nxb Thế giới, H, 2004.
224. TỰ ĐỨC (DỰC TÔNG ANH HOÀNG ĐẾ) Ngự chế Việt sử tổng vịnh, 3 tập, (Hồng Liên Lê Xuân Giao, Nguyễn Quang Tộ dịch), ủy ban Dịch thuật, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hoá xuất bản, S, 19
225. VĂN TÂN –
NGUYỄN HỒNG PHONG Lịch sử văn học Việt nam sơ giản, Nxb Sử học, H, 1961.
226. VĂN TÂN –
NGUYỄN HỒNG PHONG – NGUYỄN ĐỔNG CHI Sơ thảo lịch sử văn học Việt Nam, Quyển II, Ban Văn Sử Địa xuất bản, H, 1958.
227. VIỆN THÔNG TIN KHOA HỌC XÃ HỘI Hội thảo khoa học về Lê Thánh Tông, T/c Thông tin khoa học xã hội, số 12-1997.
228. VŨ ĐÌNH LIÊN –
ĐỖ ĐỨC HIỂU –
LÊ TRÍ VIỄN Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, tập 1 (từ nguồn gốc đến hết thế kỉ XV), Nxb Xây dựng, H, 1957.
229. VŨ ĐỨC PHÚC Về một số bài thơ Nôm của Lê Thánh Tông, T/c Văn học số 8 – 1997.
230. VŨ NGỌC KHÁNH –
SƠN ANH Đất Lam Sơn, Nxb Văn hoá, H, 1979.
231. VŨ KHIÊU (CB) Danh nhân Hà Nội, Nxb Hà Nội, H, 2004.
232. VŨ THANH Những biến đổi của yếu tố Kì và Thực trong truyện Truyền kì Việt Nam, T/c Văn học, số 6-1994
233. VŨ THANH Thánh Tông di thảo – bước đột khởi trong tiến trình phát triển của thể loại truyện ngắn Việt Nam trung cổ, T/c Tác phẩm mới, số 8-1996.
234. VŨ TIẾN QUỲNH (BS) Thơ Lê Thánh Tông & Hội Tao Đàn, Nxb Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh, 2000.
235. WHITMORE. JOHN.K. Hội Tao Đàn – thi ca, vũ trụ và thể chế nhà nước thời Hồng Đức, T/c Văn học, số 5 –1996.
236. Xương Giang thơ (tuyển thơ nhiều tác giả), Nxb Văn hoá dân tộc, H, 1998.

III – TÀI LIỆU TIẾNG NƯỚC NGOÀI
237. GASPARDONE. E Bibliographie Annamite, Bulletin de l Ecole Francaise d Extrême Orient, tome 34, H, 1935.
238. GASPARDONE. E Les Stèles royales de Lamson, publications de l EFEO, Collection de textes et Documents sur l Indochine, H, 1935.
239. MAYBON. CH Lectures sur lhistoire moderne et contemporaine du pays d Anam de 1428 à 1926, H, 1927.
240. NGUYỄN KHẮC VIỆN – HỮU NGỌC Mille ans de lité rature Vietnamienne: Un anthologie, Arcles Philippe Picqier, C, 2000.
241. NGUYỄN KHẮC VIỆN – HỮU NGỌC Panorama de la litérature Vienamienne, Enlargues éstrangères du Vienam, H, 1991
242. TRẦN KHÁNH HẠO –
VƯƠNG TAM KHÁNH (CB) Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng thư, p.1, l Ecole Francaise d Extrême Orient & Học sinh thư cục, Đài Bắc, 1986.
243. WHITMORE. JOHN.K. Literati Culture and Intergration in Dai Viet, c.1430 – c. 1840, Modern Asia Studies, printed in Britain, 1997.
244. WHITNERRE/ FCHO KREMERE The development of Le gorverment in 15th Century in Vietnam, Asia Studies Magazine, Volume 29, No 2/ 1970.

Về bản phiên Nôm Khóa hư lục của Tuệ Tĩnh (?)

Nói đến diện mạo tiếng Việt từ thế kỷ XVIII trở về trước, người ta thường băn khoăn vì một lượng tư liệu ít ỏi còn sót lại, chưa đủ để vẽ lại lịch sử tiếng Việt trong nhiều thế kỉ (như một số tập thơ chữ Nôm; một số cuốn từ điển Hán - Nôm, Việt La - tinh, vài bản dịch bằng chữ Nôm các tác phẩm Hán văn, những bài văn xuôi Nôm hoặc La – tinh của người Công giáo,...). Đây là những tư liệu quí đã được khai thác, tìm tòi. Tuy nhiên, trong đó, vẫn còn những tư liệu mặc dù được thừa nhận ít nhiều về giá trị, song do vướng mắc một số vấn đề về văn bản học, sử học... nên chưa được khai thác triệt để. Chúng tôi muốn nói đến bản “giải nghĩa” sách Khoá hư lục (nguyên tác chữ Hán của Trần Thái Tông) tương truyền là do y sư – thiền sư Tuệ Tĩnh thực hiện. Bài viết này sẽ bước đầu giới thiệu tình hình văn bản và giá trị khái quát của bản giải nghĩa này đối với việc nghiên cứu tiếng Việt lịch sử.
A. Tình hình văn bản “giải nghĩa” Khoá hư lục.
1. Lai lịch và hiện trạng văn bản
Bản giải nghĩa sách Khoá hư lục là một độc bản hiện được tàng trữ tại thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, ký hiệu AB.268. Sách chép tay, gồm 77 tờ (154 trang không kể bìa) mỗi tờ viết 6 cột chữ Hán lớn (phần nguyên bản Hán văn), mỗi cột có 2 cột chữ Nôm nhỏ, nét mảnh chép liền phía dưới, dịch nghĩa từng câu chữ Hán theo kiểu “dịch đuổi” (đối dịch). Về phần giải nghĩa bằng chữ Nôm, đại thể, sách giải nghĩa hầu như toàn bộ nguyên tác chữ Hán, tuy có một số đoạn trong các bài bị lược bỏ... Phần chữ Nôm ước khoảng 1,2 vạn chữ (so với trên 8000 chữ Hán trong phần nguyên tác). Bên cạnh ý nghĩa là một “dị bản” Hán văn Khoá hư lục, “được xem là cổ nhất” (Nguyễn Huệ Chi) [16], văn bản còn lưu giữ được phần giải nghĩa Nôm rất quý đối với chúng ta. Chính vì vậy đây là một “cuốn sách quý hoá của kho sách Hán Nôm” (Đào Duy Anh) [1].
2. Niên đại và dịch giả của văn bản
2.1. Niên đại của văn bản
Đây là một bản chép tay, chép lại một bản đã được khắc in xưa, bản khắc in này đến nay đã thất truyền. Theo bài Tựa đầu sách thì một người có tên là Tuệ Duyên (ở Từ Quán chùa Sùng Quang huyện Giao Thuỷ [lộ] Thiên Trường, “tìm thấy lời vàng quảng đại” mà sinh lòng cảm ngộ, bèn đứng đầu việc “kêu gọi mọi người, cùng xuất của nhà, sai thợ khắc bản”. Cuối bài Tựa có nghi niên đại như sau: “Lê triều Long Đức tam niên tuế thứ Tân Mùi trọng đông vọng nhật bái soạn”(tờ 3a) nghĩa là: ngày nằm mùa đông (tháng 11 âm lịch) năm Tân Mùi niên hiệu Long Đức thứ 3 triều Lê). Năm Long Đức thứ 3 là năm 1734 triều Lê Thuần Tông (1732-1735) nhưng năm 1734 không phải năm Tân Mùi mà là năm Giáp Dần. Thì ra ở đây người chép đã chép lộn từ chữ Đức Long mà ra, năm Đức Long thứ 3 tức năm 1631 triều Lê Thần Tông (1629-1634). Năm 1631 đúng là năm Tân Mùi. Vả lại năm Long Đức, chữ Long là (—´), còn năm Đức Long thì chữ Long là (?) đúng như trong phần lạc khoản. Có điều đáng chú ý là trong bài tựa đầu sách này, Tuệ Duyên không hề đả động gì đến việc giải nghĩa Nôm. Điều đó dẫn đến hai khả năng: một là, bản “giải nghĩa” đã có từ trước và mặc nhiên được xem là một phần của văn bản, không cần phải giới thiệu gì nữa; hai là, bản giải nghĩa có sau, còn bài tựa thì từ lần in đó (1631) về sau vẫn được giữ lại trong các lần in hoặc chép tiếp theo. Đây là vấn đề khá phức tạp mà hiện chúng ta chưa có đủ cứ liệu để xác quyết một bề. Nhưng theo chúng tôi, việc giải nghĩa văn bản này không thể muộn hơn thời điểm đầu thế kỉ XVIII, và do đó, đây là một tài liệu quý để nghiên cứu tiếng Việt lịch sử từ đầu thế kỉ XVIII trở về trước. Những cứ liệu về tiếng Việt lịch sử trong văn bản (như phần sau sẽ trình bày) cũng chứng tỏ điều này.
2.2. Dịch giả văn bản
Sách chép rất rõ ràng tên dịch giả (3 lần ở cả 3 quyển Thượng – Trung- Hạ tờ 5b, 31b, 77b) với cùng một câu: “Thiền tử Thận Trai pháp hiệu Tuệ Tĩnh tự Vô Dật giải nghĩa” (nghĩa là: người theo đạo Thiền là Thận Trai, tên pháp Tuệ Tĩnh, tên chữ là Vô Dật giải nghĩa). Tên tuổi này không xa lạ gì với chúng ta. Đó chính là thầy thuốc Tuệ Tĩnh nổi tiếng. Tuy nhiên, tiểu sử của Tuệ Tĩnh thế nào và có khả năng ông giải nghĩa sách Khoá hư lục hay khôngg vẫn cần phải tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu, bởi ngoài sách này, không có một tư liệu nào khác cho biết điều đó. Hiện có hai luồng ý kiến không thống nhất về thời đại của Tuệ Tĩnh. Loại ý kiến thứ nhất cho rằng, Tuệ Tĩnh sống vào khoảng thế kỉ XIV. Loại ý kiến thứ 2 cho rằng Tuệ Tĩnh sống vào khoảng cuối thế kỉ XVII đầu thế kỉ XVIII. Theo chúng tôi, ý kiến thứ 2 có lẽ có cơ sở hơn và phù hợp với niên đại của bản giải nghĩa (như đã nêu), cũng như một số sách thuốc khác do Tuệ Tĩnh soạn bằng chữ Nôm và chữ Hán. Việc Tuệ Tĩnh có soạn các sách thuốc bằng chữ Nôm cho thấy không thể loại trừ khả năng đúng là Tuệ Tĩnh đã thực hiện phần “giải nghĩa” này.
II. Giá trị của bản giải nghĩa đối với việc nghiên cứu tiếng Việt lịch sử.
Mặc dù còn có những vấn đề tồn nghi như đã nêu, cộng với những xuất nhập trong quá trình sao chép, nhưng chúng tôi vẫn cho rằng, đây là một tài liệu có giá trị đối với việc nghiên cứu tiếng Việt lịch sử. Điều đó được thể hiện ở các mặt sau:
1. Ngữ âm tiếng Việt cổ
Một số cách viết chữ Nôm (không nhiều nhưng rất quan trọng) trong bản giải nghĩa thể hiện sự phát triển của ngữ âm tiếng Việt cổ từ thế kỉ XVI đến giữa thế kỉ XVIII. Đó là xu hướng chuyển hoá của một số phụ âm đầu tiếng Việt. Cụ thể là các xu hướng sau:
+ Xu hướng KL > TR, ví dụ: cách ghi âm tiếng Việt bằng các mã chữ: (cổ + lộng) Klống > trống [67b3, 75b3,43b6…]; (cư lược) Klước > trước [7a4,8b5,13a4…]; (cung, công...) Klong > trong [12b3, 22b4]; (cự + lại) Klái > trái [ 65a5];(long...) Klong > trong [18a1,…]…
+ Xu hướng KR > PhL; PhL > S, ví dụ: cách ghi âm tiếng Việt bằng các mã chữ: (cự + lang) Krang > sang [15b2,40b3,70a6]; (cổ + la) Kra > sa [49a1]; (cư +lo) Kro > so [7a4,…], [cư]+lâu > sau, v.v…
Hai xu hướng này hoàn thành trước thế kỷ XVII vì đến Từ điển Việt Bồ La (1651) ta không còn thấy hiện tượng này: Kl bị thay thế bởi tl, bl, và S đã xuất hiện.
+ Xu hướng TL, BL > TR, ví dụ: cách ghi âm tiếng Việt bằng các mã chữ: (bả...) blả > trả [15a1]; (luận) tlọn > trọn [12a1, 25b1, 70b3,70b4,…]; (lược) tlươc > trước [35b5, 42a6,…]; (lâu) tlâu > trâu [16a6, 46b5…]; (lã) tlở > trở [17a2, 44a5,…]. Xu hướng này phổ biến ở thế kỉ XVII, đầu thế kỉ XVIII.
+ Xu hướng S' > TH: thể hiện trong cách viết chữ Nôm, như: dùng Sài ghi thầy [10b…]; dùng (x)sa > thưa [9a6]; dùng Sơ ghi thưa [55a4, 62a5]; dùng (x)súc ghi thúc [13b6] dùng Sở ghi (đọc) thửa [67a…]; dùng (lỗi) sôi ghi thôi [13b6]; dùng Soái (suối) ghi thoái (thối) (trong thoái lui) [50b2, 74b2]… Xu hướng này được nhiều nhà nghiên cứu (Vương Lộc, Nguyễn Ngọc San...) khẳng định là đã hoàn thành ở thế kỷ XVI như là hệ quả của quá trình S > TH.
+ Xu hướng T > R, thể hiện trong cách viết chữ Nôm, như: dùng táo ghi ráo (khô ráo)[35a4, 64b1]; dùng tạc ghi rạc (rời rạc) [9a3] dùng tốt ghi rót (nước) [69b3, 72b3]; dùng tốt ghi rốt (cuối) [26a6, 26b1]…
+ Xu hướng (TR > R), ví dụ: chung (trung) > rong [13b3, 44b3, 64b2]; trù > rò (rò rỉ)[72a3]; trạo > rào (rào phên) [46b5]…
Hai xu hướng này được xác định là phổ biến ở thế kỉ XV – XVII.

Ngoài ra văn bản còn giữ được cách ghi một số âm cổ tiếng Việt như: la - đá, bà- cắt,… Những âm này chỉ có trong các sách thế kỷ XVII trở về trước như An Nam dịch ngữ, Quốc âm thi tập, Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa, Từ điển Việt - Bồ - La,…
2. Từ vựng tiếng Việt cổ
Bản giải nghĩa này bảo tồn một lượng từ ngữ khá lớn trong tiếng Việt cổ, trong đó đáng chú ý là những từ ngữ cổ. Nói một cách chung nhất, từ ngữ cổ là những từ ngữ xuất hiện trong các văn bản cổ nay không còn được sử dụng nữa hoặc sử dụng hết sức hạn chế. Quan niệm chặt chẽ hơn thì "từ ngữ cổ" là những từ lưu lại trong các văn bản viết cổ hay văn bản truyền khẩu cổ mà hiện nay không còn được sử dụng nữa và để hiểu được chúng, người ta phải dùng đến các loại từ điển cổ. Chúng ta có thể phân các từ ngữ cổ trong bản giải nghĩa này thành các loại sau:
a. Những từ ngữ xưa dùng độc lập, nay chỉ tồn tại như là yếu tố mất nghĩa, mờ nghĩa trong các tổ hợp từ. Ví dụ: cưu (cưu mang) dấu (yêu dấu); khuây (quên khuây), làu (thuộc làu), át (ướt át), dể (khinh rẻ), đam (đam mê), ghẽ (chia ghẽ); lẻo (trong lẻo); nặc (nồng nặc), lếu (láo lếu), rệt (rõ rệt) ràng (rõ ràng); tây (riêng tây); rỡ (rực rỡ); vắn (vắn tắt), nỏ (khô nỏ)... Văn bản cung cấp cho ta một lượng khá lớn những từ ngữ như vậy, giúp ta lý giải các yếu tố mất nghĩa, mờ nghĩa hiện nay, giải thích sự hình thành cái gọi là từ ghép hợp nghĩa trong tiếng Việt hiện đại.
b. Những từ ngữ đã biến mất hoàn toàn trong kho từ vựng hiện đại, không còn được sử dụng nữa, chỉ tồn tại trong các văn bản cổ hoặc các từ điển cổ. Ví dụ: mựa (chớ), chỉn (thực, chỉ), bui (duy chỉ), nhẫn (ví dù, đến), loàn đan (càn rỡ), cày cạy (khư khư); nghỉ (nó, tự mình); biên (tóc); dể duôi (khinh rẻ), cóc( biết); ngỏ (thông minh), ốc (gọi), phô (các); ghê (nhiều)...
c. Những từ ngữ chỉ còn dùng hạn chế trong các phương ngữ, trong thành ngữ, tục ngữ, thuật ngữ... Ví dụ: rồi (ăn không ngồi rồi), mống (khôn sống mống chết), khôn (người khôn của khó); thác (sống gửi thác về),…
d. Những từ ngữ xưa là song tiết, nay đã rụng mất tiền tố, chỉ còn đơn tiết, nó phản ánh lịch sử phát triển tiếng Việt, nhất là nguồn gốc Nam Á của nó. Ví dụ: la- đá (đá); bà - cắt (chim cắt)…
e. Những từ ngữ Hán xưa dùng độc lập nay không dùng độc lập nữa mà chỉ là những yếu tố Hán Việt dùng để cấu tạo từ. Ví dụ: đam (đam mê); cấu (cấu tạo), quốc (quốc gia),…
f. Những từ ngữ còn xuất hiện nguyên dạng, nhưng nghĩa cũ đã mất, nay dùng theo nghĩa mới [hoàn toàn] khác nghiã cũ, ví dụ: cặn kẽ (nghĩa cũ: ân cần chu đáo// nghĩa mới: sát sao, tỉ mỉ), xưa (trước kia//cổ, cũ); hèn (nhẹ, khinh // nhát, kém cỏi)...
Trước đây khi nghiên cứu văn bản này, học giả Đào Duy Anh đã lưu ý: “Về từ thì sách này có một số từ xưa” [1, 38] nhưng ông chưa khảo sát một cách toàn diện mà chỉ nhắc đến một số hiện tượng tiêu biểu. Theo thống kê của chúng tôi, trong văn bản này có khoảng 158 từ cổ, tần số xuất hiện khoảng 900 lần (nếu tính tỉ lệ tiếng cổ so với tổng số tiếng trong bản giải nghĩa thì chúng chiếm khoảng 7,4%). So sánh với một số văn bản khác (theo các số liệu do các nhà nghiên cứu những văn bản này cung cấp và theo khảo sát của chúng tôi), ta có bảng sau:

Văn bản Số từ cổ Tổng số tiếng Số tiếng cổ Tỉ lệ
Quốc âm thi tập 282 12.409 1090 8,75%
Cư trần lạc đạo phú 69 1622 135 8,32%
Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca 19 316 22 6,9%
Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh 105 4389 688 14,2%
Khoá hư lục giải nghĩa 159 12.135 896 7,4%
Bảng thống kê cho thấy vị trí và giá trị của bản giải nghĩa Khoá hư lục trong việc bảo tồn vốn từ ngữ cổ tiếng Việt nhiều thế kỉ trước bên cạnh những văn bản đã được xác định là rất cổ (thế kỉ XV – XVI).
Mặt khác, trong hơn 100 từ ngữ cổ nêu trên, có rất nhiều từ ngữ cổ chỉ xuất hiện ở những văn bản Nôm thế kỷ XV - XVII như: ốc (gọi), la-đá (đá), bà-cắt (chim cắt), táp (xa, rộng khắp), át (ướt), ghê ( nhiều), biên (tóc), dồi điểm (trang điểm), loàn đơn (sai trái), mắng (nghe), phô (các), chỉn (chỉ, thực), sá (hãy), mựa (chớ)... Điều đó khẳng định niên đại tương đối cổ của văn bản này cũng như cho thấy đây là kho ngữ vựng cổ rất có giá trị.
3. Ngữ pháp tiếng Việt cổ
Ngữ pháp tiếng Việt trong văn bản về cơ bản là gần ngày nay, có những quy tắc bất biến (ví dụ trật tự chủ + vị, vị ngữ + bổ ngữ đối tượng, các hư từ nay còn dùng...). Tuy nhiên, trong văn bản này có một số hiện tượng ngữ pháp đáng lưu ý:
3.1. Hệ thống hư từ cổ
Bên cạnh một số hư từ cho đến nay chúng ta vẫn sử dụng, trong văn bản còn tồn tại nhiều hư từ cổ với mật độ khá dày như bui, chỉ, chưng, nẻo, lọ, thửa, mựa, sá, tua, hằng, hầu, nhẫn, mặc, hợp, bẵng, phô... với tần số xuất hiện khoảng 650 lần sử dụng (chiếm khoảng 75,2 % số lần xuất hiện của các từ cổ) trung bình 29,5 lần từ và chiếm 5,3% số tiếng trong văn bản (đặc biệt hư từ “chưng” có tới gần 300 lần xuất hiện). Một số hư từ ngày nay vẫn còn sử dụng nhưng ý nghĩa phần nào thay đổi (như: phải, chớ, vậy, ấy...) một số còn giữ tính chất thực từ (như: rồi, nên, vậy, ấy, phải, ... ). Ngoài ra, có sự tồn tại của cả hệ thống hư từ cổ và hư từ hiện nay còn dùng đang ở thế cạnh tranh từng cặp,ví dụ: mựa/ chớ, tua/ nên, xá / hãy, song le/ nhưng; chỉn/ thực; chỉn/ chỉ; phô/ các, những, mặc/để, nẻo/ khi, lúc, nẻo/ chốn, nẻo/ thuở ... Cũng có khi là sự “hợp tác” tạo nên hiện tượng “lặp” khá thú vị như: mựa chớ loàn đơn, nhẫn đến muôn họ, chỉn thực rất thiêng, những phô tội, mặc mà ... Hiện tượng này sẽ được đề cập trở lại ở phần sau.
3.2. Trật tự từ
Về cơ bản, bản giải nghĩa tuân theo trật tự Việt, nhưng nhiều chỗ, nhiều trường hợp bản dịch vẫn chịu ảnh hưởng nặng của trật từ Hán do có sự khác biệt giữa hai ngôn ngữ mà người sử dụng (dịch) chưa có ý thức chuyển đổi triệt để. Nó phản ánh thời kỳ đầu của sự ảnh hưởng từ tiếng Hán vào tiếng Việt ở tất cả các cấp độ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, từ chương, văn bản ...). Sự ảnh hưởng này là tất yếu bởi tiếng Việt xưa chắc hẳn là thiếu nhiều các hình thức, cách diễn đạt nhất là diễn đạt các khái niệm, nội dung trừu tượng ... Song mặt khác cũng do lối học “cử tử” của ông cha ta dẫn đến cách “đối dịch”, “dịch đuổi”, trong việc giảng kinh sách hay học chữ (như các sách Tam thiên tự, Ngũ thiên tự...) mà có hiện tượng nêu trên. Đây là một hiện tượng có thật trong tiếng Việt các thế kỉ trước, cả văn nói lẫn văn viết, cả trong sáng tác lẫn dịch thuật. Sau đây là một số hiện tượng cụ thể:
a. Trật tự ĐỘNG TỪ NGHI VẤN + BỔ NGỮ NỘI DUNG + GIỚI TỪ + BỔ NGỮ ĐỐI TƯỢNG
Đây là trật tự của Hán văn, ví dụ: “Vấn pháp ư Quốc Nhất”, còn trật tự Việt phải là: ĐỘNG TỪ NGHI VẤN + BỔ NGỮ ĐỐI TƯỢNG + (LIÊN TỪ) + BỔ NGỮ NỘI DUNG. Chẳng hạn, ta có thể nói: “Hỏi thầy giáo (về) bài học”, mà rất ít khi nói: Hỏi bài học (ở) thầy giáo. Nhưng trong bản giải nghĩa ta thấy cách viết xa lạ này, ví dụ: “Ngươi Phòng tướng mến đạo hỏi pháp chưng (trường) thầy Quốc Nhất” (24a); “Ông La-Hán bèn đến tham lễ hỏi đạo chưng thầy hoà thượng Ngưỡng Sơn”(25a) v.v…
b. Trật tự ĐỊNH NGỮ + VỊ TỪ (DANH HOÁ)
Đây là một trật tự phổ biến trong Hán văn khi các vị từ được dùng như danh từ. Ví dụ: “vạn vật chi chí linh” (cái rất thiêng của vạn vật)." Hoàng kim chi trọng" (sự quý giá của vàng ngọc) "Thánh vương chi đỉnh sinh" (sự sinh trội của bậc thánh vương)… Bản giải nghĩa cũng giữ nguyên trật tự này, tuy nhiên, do từ loại tiếng Việt không linh hoạt nội tại như từ loại Hán cho nên câu văn trở nên rất lạ: Làm trước muôn vật chưng chỉn rất thiêng; Của cải thực ấy chưng trọng ; Đấng thánh vương chưng tăng oai…
Chúng ta có cảm giác từ 1 cụm từ (trong Hán văn) đã biến thành một kết cấu C - V; nhưng thực ra không phải vậy, đây vẫn là một cụm từ nhưng được sắp xếp trật tự một cách xa lạ với cảm quan người Việt, đọc lên vẫn có thể hiểu, nhưng hơi khó khăn (nhất là với người không học chữ Hán, và người hiện đại).
c. Trật tự ĐỊNH NGỮ + DANH TỪ (CỤM DANH TỪ)
Ở các trường hợp đơn giản, trật tự hán này được chuyển sang trật tự Việt: Ví dụ : Danh lợi chi đồ > đường danh lợi ;Phong tiền chi chúc > đuốc đương khi gió; Mộc nhân >người gỗ… Nhưng, ở các trường hợp phức tạp (định nghĩa nhiều bậc, câu dài,...) thì trật tự ấy được giữ nguyên. Ví dụ: Lâu thượng chi giác thanh (tiếng tù và trên lầu) > trên lầu chưng tiếng giốc; Đại tịch chi chúc ảnh (bóng đuốc tiệc sang) > tiệc đồi mồi chưng bóng đuốc; Ngân Hán chi tinh triền (sao bên sông ngân) > Sông Ngân Hán chưng ngôi sao; Thiên gia vạn ốc chi môn (cửa muôn nhà) > nghìn nhà muôn buồng chưng cửa, v.v…
Có thể thấy rằng do kết cấu 2 bậc định nghĩa nên sự chuyển dịch hoàn toàn đã không diễn ra. Có thể mô hình hoá hiện tượng này thành sơ đồ sau:











Nhìn sơ đồ, ta thấy sự chuyển trật tự (Đi + D D + Đi) chỉ diễn ra ở cấp độ thứ nhất (định ngữ đơn giản), ở cấp độ thứ 2, trật tự Hán vần được giữ nguyên, và cả cụm từ vẫn đóng vai trò một "đoản ngữ" trong cấu tạo cú pháp, ví dụ: Trên lầu chưng tiếng giốc hầu dứt ; Sông Ngân Hán chưng ngôi sao đã lặn …
d. Trật tự (chưng +) DANH TỪ + ĐỊNH NGỮ
Đây là một hiện tượng trung gian: người dịch chuyển trật tự Hán sang trật tự Việt nhưng vẫn còn giữ lại "cái đuôi" Hán bằng việc gắn "chưng" (dịch chi) vào phía trước danh từ và xem nó là một bộ phận của trung tâm cụm từ, ví dụ : - Ly Lâu chi mục (mắt ông ly Lâu) > chưng con mắt ông Ly Lâu; Sư Khoáng chi thông (tài trí thầy Sư Khoáng) > chưng tài thông minh thầy Sư Khoáng.
Từ "chưng "đó dường như báo hiệu cho người đọc, (nghe) biết rằng định ngữ đứng sau nó phải bổ nghĩa cho danh từ trung tâm. Về hiện tượng đó, tiến sĩ N.V. Stanxkêvic nhận xét rằng: “kết cấu này có nét gợi cho ta nghĩ đến kết cấu gọi là Y-za-phét trong các ngôn ngữ hệ Tuyếc, vì ở kết cấu Y-za-phet: phụ tố chỉ quan hệ hạn định cũng nhập luôn vào trong từ trung tâm chứ không nằm ở từ phụ” [13, 389]. Nghĩa là, "chưng" cũng đóng vai trò như một phụ tố chỉ quan hệ hạn định giữa trung tâm và thành phần phụ chỉ quan hệ hạn định giữa trung tâm và thành phần phụ. Mô hình quan hệ như sau:





e. Trật tự DANH TỪ (CHỦ THỂ) + THỬA + VẬT SỞ HỮU
Trong tiếng Hán ta thường thấy các cụm từ, ngã sở nhục, nhĩ sở công... dịch sang tiếng Việt: thịt của tôi, công của anh. Nhưng ở bản dịch này các trật tự trên vẫn được giữ nguyên, còn "sở" được đọc chệch thành "thửa". Ví dụ: "Mỗ giáp thửa lo", "chúng sinh thửa tối". Đây cũng là một minh chứng cho sự ảnh hưởng của ngữ pháp Hán. Ở các nhà chùa hiện nay, hiện tượng này vẫn còn tồn tại, nhất là trong việc giảng kinh kệ chữ Hán.
f. Trật tự: ĐỘNG TỪ + BỔ NGỮ ĐỐI TƯỢNG
Đa số các trường hợp trong bản giải nghĩa đều theo trật tự thông thường (Đ + B), ví dụ: "làm chưng sự luân hồn, làm chưng tựa tứ sơn”... Nhưng ở trường hợp phức tạp: bổ ngữ là một tổ hợp (danh ngữ) nhiều bậc thì hiện tượng lạ xảy ra. Ví dụ: "Vũ lược thu bách chiến chi công" (Tài võ thu được công tràm trận) > Nghề võ mạnh chưng công thu được trăm trận đánh; Văn bút tảo thiên quân chi trận (Bút văn quét hết trận thế nghìn quân lính)> “Mũi bút nhọn chưng trận quét hết thiên quân”…
Ở đây, trung tâm của kết cấu “động từ + bổ ngữ đối tượng” bị biến thành 1 trong 2 khả năng: một là, trạng ngữ của câu với giới từ “chưng” (khi, lúc); hai là, trung tâm của ngữ danh từ làm chủ ngữ. Về mặt ý nghĩa, nếu theo khả năng thứ nhất thì câu văn sáng sủa hơn nhưng cũng không thể loại bỏ hoàn toàn khả năng thứ 2, mà đứng về lịch sử, khả năng thứ hai lại đúng hơn. Dẫu sao, việc cắt đứt hoàn toàn trung tâm của bổ ngữ và chuyển thành một thành phần khác trong câu là một hiện tượng lạ hiếm thấy trong các bản Nôm khác (như Tân biên Truyền kì mạn lục tăng bổ giải âm tập chú, Khoá hư lục giải âm,…).
3.4. Hiện tượng lặp từ
Đó là hiện tượng dùng nhiều từ cùng nghĩa, cùng chức năng bên cạnh nhau, ví dụ: “mựa chớ”, “cóc ngõ”, “trong nơi chốn”, “trong khi lúc”, “cóc biết”, “ốc gọi”, “tua xá”, mắng nghe, nhẫn đến, ... Theo chúng tôi, phải chăng đây là phương thức nhấn mạnh của người xưa và có lẽ là cội nguồn lý giải các hiện tượng ghép hợp nghĩa (đứng về mặt lịch sử) hiện nay như: hỏi han, áo xống,.... Cũng có một số trường hợp kết hợp một từ cổ + một từ hiện đang thông dụng (như: mựa chớ, ốc gọi, cóc biết...), chúng tôi lại ngờ rằng do sự không hiểu của người đời sau với các từ cổ nên đã “chấp bút” viết thêm từ mới vào bên cạnh các từ cổ tạo nên sự tồn tại song song như đã mô tả. Hiện tượng này không chỉ xuất hiện ở văn bản này mà còn thấy ở một số văn bản khác như Quốc âm thi tập, Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh,… nhưng không phổ biến như văn bản này. Đây là hiện tượng cần tiếp tục được nghiên cứu, lí giải thêm. Dẫu sao, hiện tượng này cũng để lại ấn tượng khi đọc bản giải nghĩa này là sự xa lạ, nhiều khi lòng thòng, khó hiểu khác với tiếng Việt ngày nay.
Tóm lại, bản giải nghĩa chữ Nôm sách Khoá hư lục là một văn bản có giá trị về nhiều mặt, trong đó nổi bật nhất là giá trị của một kho ngữ liệu về tiếng Việt lịch sử. Phần giải nghĩa này đã được chúng tôi phiên âm, chú thích và công bố trong báo cáo khoa học Khảo sát và tìm hiểu giá trị bản giải nghĩa chữ Nôm sách Khoá hư lục của Trần Thái Tông [15]. Thiết nghĩ, trong điều kiện tư liệu về tiếng Việt lịch sử còn thiếu thốn hiện nay, việc đi sâu vào tìm hiểu các bản dịch Nôm xưa là rất có ý nghĩa. Vẫn biết, trong ngành Việt ngữ học, nghiên cứu đồng đại luôn được ưu tiên, nhưng nghiên cứu lịch đại cũng không thể không chú trọng, nhất là khi chúng ta muốn giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc qua ngôn ngữ.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đào Duy Anh: Chữ Nôm: nguồn gốc, cấu tạo, diễn biến, Nxb KHXH, H, 1975.
2. Nguyễn Tài Cẩn: Lịch sử ngữ âm tiếng Việt - Sơ thảo, Nxb Giáo dục, H, 1995.
3. Nguyễn Tài Cẩn: Một số vấn đề về chữ Nôm, Nxb ĐH &THCN, H, 1985.
4. Lê Trần Đức (biên soạn): Tuệ Tĩnh toàn tập, Nxb Y học, H, 1998 (tái bản lần 4).
5. Hoàng Xuân Hãn: “Văn Nôm đời Trần Lê” (La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn, Tập 3, Nxb Giáo dục, H, 1998).
6. Mai Hồng: Tìm hiểu tư liệu về Tuệ Tĩnh, Tạp chí Nghiên cứu Hán Nôm, Số 1. 1985
7. Trần Xuân Ngọc Lan (phiên khảo). Chỉ nam ngọc âm giải nghĩa, Nxb KHXH, H. 1985.
8. Vương Lộc (phiên khảo): An Nam dịch ngữ, Trung tâm từ điển học, Nxb Đà Nẵng, H, 1997.
9. Hoàng Thị Ngọ: Chữ Nôm và tiếng Việt qua bản giải âm Phật thuyết đại báo phụ mẫu ân trọng kinh, Nxb KHXH, H, 1999.
10. Lê Văn Quán: Nghiên cứu về chữ Nôm, Nxb KHXH, H, 1981.
11. Nguyễn Ngọc San: Cơ sở ngữ văn Hán Nôm (tập 4), Nxb Giáo dục, H, 1986.
12. Nguyễn Ngọc San: Tìm hiểu Tiếng Việt lịch sử, Nxb Giáo dục, H, 1993.
13. N.V. Stankêvic: Hiện tượng giao thoa từ ngữ pháp Hán sang ngữ pháp tiếng Việt qua bản giải âm Khoá hư lục, trong Những vấn đề về ngôn ngữ Phương Đông, Viện Ngôn ngữ, H, 1983.
14. Trần Thái Tông: Thiền tông khoá hư ngữ lục, Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu: AB. 268.
15. Nguyễn Thanh Tùng: Khảo sát và tìm hiểu giá trị bản giải nghĩa chữ Nôm sách Khoá hư lục của Trần Thái Tông, Báo cáo khoa học, Trường ĐHSP Hà Nội, 2003.
16. Viện Văn Học: Thơ văn Lý Trần (Tập 1). Nxb KHXH. 1977.

Giới thiệu bài Tự tự Minh đô thi vựng mới phát hiện

Minh đô thi vựng 明 都 詩 彙 (MĐTV) là bộ thi tuyển chữ Hán đồ sộ thứ hai của Việt Nam thời trung đại(1) do Bùi Nhữ Tích 裴 汝 惜 (? - ?) biên soạn. Tuy nhiên, cho đến nay, tình hình văn bản của công trình là khá phức tạp. Vẫn còn tồn tại rất nhiều câu hỏi như: soạn giả, quan điểm biên soạn, quá trình truyền bản, hiện trạng văn bản, v.v…(2) Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình hình phức tạp đó là vấn đề tư liệu, nhất là những tư liệu gốc có liên quan. Nhằm góp phần giải quyết những vấn đề trên, chúng tôi xin được giới thiệu một tư liệu mới phát hiện - bài Tự tự MĐTV - và sơ bộ thẩm định giá trị của nó.
1. Lai lịch văn bản
Trước đây, khi khảo sát bản MĐTV (VHv.2392)(3), đặc biệt là khi đọc đến bài Bạt MĐTV của Bùi Ngạn Cơ chép ở cuối sách, chúng tôi cứ băn khoăn, suy đoán, nếu sách có bài Bạt thì hẳn cũng có bài (hoặc một số bài) tựa của ai đó, không ngoại trừ của Bùi Nhữ Tích, viết về công trình này. Vì vậy, chúng tôi đã lưu ý tìm tòi theo hướng suy đoán đó. Và thật may mắn! Chúng tôi đã tìm được một bài tựa như thế. Đó là bài Tự tự MĐTV được chép trong sách Bái Dương thi tập 沛 陽 詩 集 (tờ 101b – 102a). Sách mang kí hiệu VHv. 142 của Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm. Sách còn có tên khác là Bái Dương Tiến sĩ Ngô tiên sinh thi tập 沛 陽 進 士 吳 先 生 詩 集. Bái Dương thi tập là tập thơ của Tiến sĩ Ngô Thế Vinh (1802 - 1856) hiệu Dương Đình, dày 204 trang giấy dó, khổ 24 x 18 (cm). Văn bản thi tập của ông không rõ được ai đó chép lại bằng lối chữ hành, đá thảo, tương đối dễ đọc. Sách Bái Dương thi tập còn chép lẫn một số tác phẩm chưa rõ tác giả, như: Nguyệt phú 月 賦, Thanh phong phú 清 風 賦,…Các tác phẩm này (cùng với bài Tự tự) được chép riêng về cuối sách, tách hẳn thành một phần riêng so với phần thơ ca của Ngô Thế Vinh. Điều đó cho thấy người sao chép có ý thức phân biệt tác phẩm của Ngô Thế Vinh với các tác phẩm khác. Tuy nhiên, nó cũng cho thấy tính chất “cóp nhặt”, tùy tiện của văn bản(4). Tính chất tùy tiện cũng nằm ngay trong việc chép bài Tự tự. Bên cạnh tiêu đề bài Tự tự có chú: “Kinh vi tài đính tịnh lục” 經 為 裁 訂 錄 (trải qua việc hiệu đính và sao lục), nhưng trong bài Tự tự có một số chữ bị chép sai, chép lộn do việc người sao chép không nắm được văn mạch và chữ nghĩa, chẳng hạn chép “tiên sinh” (先 生) thành “tiên vương” (先 王), “khẳng khải” (肯 綮) thành “khẳng khể” (肯 棨), “tấn hịch” (迅 獥) thành “tấn kích” (迅 激), “hạ” (下) thành “bất” (不) [Xem phụ lục 2]... Nhưng cũng vì thế, sách lưu giữ lại được bài Tự tự.
Vì sao bài Tự tự lại nằm trong Bái Dương thi tập mà không nằm trong các dị bản MĐTV? Nguyên nhân có lẽ là: văn bản MĐTV còn lại ngày nay không còn nguyên vẹn, bị thất tán hoặc sửa đổi thành các dị bản không đầy đủ (A.2424; A.2171; VHv.2392,…), cho nên bài Tự tự này trong một thời gian dài đã lạc khỏi công trình và tưởng như mất hẳn. Nhưng người sao chép Bái Dương thi tập đã chép được bài Tự tự này từ một nguồn nào đó và vì vậy, bài Tự tự được bảo lưu cho đến ngày nay. Tuy nhiên, từ trước đến nay, khi nghiên cứu về MĐTV, chưa người nào đề cập và khai thác bài Tự tự này.
2. Tác giả và niên đại bài Tự tự
Tác giả bài Tựa là ai? Sách Bái Dương thi tập chép rõ: “Cơ Phủ tự tự MĐTV” 基 甫 自 序 明 都 詩 彙 (Cơ Phủ tự làm bài Tựa về tác phẩm MĐTV [của mình]). Cơ Phủ là tên hiệu của Bùi Ngạn Cơ 裴 彥 基, con trai Bùi Nhữ Tích (theo bản VHv.2392). Nhưng đọc sâu vào bài Tựa, dễ dàng nhận thấy đây là bài Tựa của chính Bùi Nhữ Tích chứ không phải Bùi Ngạn Cơ. Theo bài Tựa, tác giả tự thuật rằng: “tôi thuở nhỏ được thờ dưới cửa tiên sinh Bùi Tồn Am, từng được thấy [tiên sinh] luận thuật về văn hiến của nước nhà, liền trăn trở mà đoái mộ”. Điều này trùng với ghi chép của chính Bùi Ngạn Cơ về cha mình trong bài Bạt MĐTV chép trong bản VHv.2392 mà chúng ta đã quen thuộc: “cha tôi…là môn nhân của Bùi Tồn Am tiên sinh”. Cũng theo bài Bạt MĐTV thì sách MĐTV là của Bùi Nhữ Tích, Bùi Ngạn Cơ chỉ biên tập lại mà thôi. Trong khi đó, bài Tự tự lại nêu lại quá trình làm sách MĐTV (xem phụ lục 2). Hơn nữa, Bùi Ngạn Cơ đã viết bài Bạt trình bày việc biên tập của mình thì không có cớ gì lại “tự tự” (tự làm bài bài tựa về sách của mình) ở đầu sách nữa. Như vậy, người sao chép văn bản Bái Dương thi tập đã nhầm lẫn. Hẳn vì khi chép lại bài Tự tự này từ một nguồn nào đó, người sao cũng không có bản gốc MĐTV trong tay, mà có một truyền bản của bản MĐTV đã được Bùi Ngạn Cơ “biên tập”. Hoặc giả, ông cho rằng tên hiệu của Bùi Nhữ Tích là Cơ Phủ chăng? Trên thực tế, Bùi Nhữ Tích, tự là Chi Phúc 之 福, hiệu là Khắc Trai cư sĩ 克 齋 居 士 (Bạt MĐTV). Dù sao, chúng ta cũng đã xác định được rõ ràng: bài Tự tự này do chính Bùi Nhữ Tích, soạn giả MĐTV viết. Đây là thông tin quý báu, nâng tầm giá trị của bài Tự tự.
Bài Tự tự được viết khi nào? Sách Bái Dương thi tập không chép lạc khoản của bài Tự tự nên ta không thể xác định thời điểm cụ thể. Nhưng có thể thông qua một vài thông tin trong bài Tự tự để suy đoán. Bài Tự tự có nhắc đến tập Thi sao (tức Lịch triều thi sao) của Bùi Huy Bích, sau đó có câu: “Nay đọc lại tập thơ còn sót lại ấy, già rồi mới có sự thỏa đáng nơi tâm”. Người ta chỉ gọi là “di tập” khi tác giả, soạn giả của nó đã mất. Bùi Huy Bích mất năm 1818, vậy bài Tự tự này không thể viết sớm hơn thời điểm ấy. Chúng ta lại cũng biết rằng, Thi sao được khắc in và đổi tên thành Hoàng Việt thi tuyển nhờ một người học trò của cụ Bùi Huy Bích. Bài Tựa Hoàng Việt thi tuyển của Nguyễn Tập nói về việc khắc in này được viết năm Minh Mệnh thứ 6 (1825); cũng có nghĩa là Thi sao được khắc in vào khoảng năm này. Nếu bài Tự tự được viết sau khi Thi sao đã được khắc in thì hẳn Bùi Nhữ Tích phải biết và nhắc đến trong bài Tựa của mình. Như vậy, có thể phỏng đoán rằng, bài Tự tự được viết vào quãng thời gian từ năm 1818 đến 1825. Nếu phỏng đoán này là đúng thì chúng ta còn biết thêm được rằng, Bùi Nhữ Tích có thể sống đến sau năm 1818 (và có khả năng mất trước năm 1825). Đây là chi tiết có thể bổ sung vào tiểu sử của Bùi Nhữ Tích, ngoài những gì chúng ta biết qua bài Bạt MĐTV của Bùi Ngạn Cơ, con trai ông.
3. Giá trị của bài Tự tự MĐTV
Bài Tự tự MĐTV của Bùi Nhữ Tích cung cấp cho chúng ta các thông tin quý giá sau:
a. Tên của bộ sách:
Bài Tự tự cho biết: “[Tôi] nhân dựa vào tập Thi sao ấy, lại chọn nhặt rộng thêm [biên tập thành sách], được hơn một nghìn bốn trăm bài, chia làm 8 vựng, đặt tên là MĐTV, để tiện xem cho mình”. Như vậy, công trình do Bùi Nhữ Tích soạn có tên là “MĐTV”, tên gọi này phù hợp với ghi chép của Nguyễn Thu trong Việt thi tục biên Tiểu dẫn và bản VHv.2392. Các tên sách như: “Minh đô thi tuyển”, “Minh đô thi”, “Minh đô thi tập”,... xuất hiện trong các dị bản khác (A.2424; A.2171;…) không phải bản danh của công trình. Điều đó góp phần cho thấy tính chất gần nguyên bản nhất(5) của VHv.2392, ít nhất là về tên gọi.
b. Quá trình và quy cách biên soạn sách
Bùi Nhữ Tích cho biết quá trình biên soạn sách như sau: thuở nhỏ, ông là học trò của Bùi Huy Bích, thấy thầy luận thuật về văn hiến nước nhà, lại soạn bộ Thi sao chép thơ các nhà nên rất ngưỡng mộ. Nhưng ông cũng cho biết sách Thi sao còn giản ước,có “mấy trăm bài”, viết ra cốt để dạy học trò, nên ông vừa căn cứ vào sách ấy, vừa để công sưu tầm, nhặt nhạnh thêm, được một bộ MĐTV “hơn một nghìn bốn trăm bài”, nhiều hơn hẳn sách của thầy để lại. Như vậy, MĐTV được cấu thành từ thơ chép trong Thi sao và thơ do Bùi Nhữ Tích sưu tầm thêm. Sưu tầm thêm từ nguồn nào thì ông không nói rõ. Do chịu ảnh hưởng sâu sắc của Thi sao nên hẳn sách của Bùi Nhữ Tích cũng có quy cách biên soạn tương tự như công trình của Bùi Huy Bích. Quy cách biên soạn của Thi sao, như mô tả của Bùi Nhữ Tích, là: “xếp lên đầu là đế vương các đời, thứ đến là các bậc danh thần, thạc sĩ, và có lược thuật về sự nghiệp và hành trạng của các vị đó, phân chú ở dưới để chỉ cho người học về sau biết rõ”. Nhờ thông tin này, chúng ta có thể hình dung được diện mạo ban đầu của Thi sao (so với Hoàng Việt thi tuyển sau này). Theo như mô tả của Bùi Nhữ Tích, chúng ta nhận thấy, Hoàng Việt thi tuyển bảo lưu được khá nguyên vẹn “bản lai diện mục” của Thi sao. Cũng nhờ bài Tự tự, chúng ta có cơ sở để tìm hiểu thêm nguyên bản MĐTV. Theo Việt thi tục biên Tiểu dẫn của Nguyễn Thu thì sách MĐTV “đem thơ của cả các vị giỏi các triều, từ Lí, Trần, cho đến tận ngày nay, chia làm 5 loại: danh thần, thành thần, nho thần, văn thần, xử sĩ…”, không thấy Nguyễn Thu nhắc đến loại “đế vương các đời”. Mô tả của Bùi Nhữ Tích và của Nguyễn Thu có sự khác biệt. Trong tương lai, chúng ta phải so sánh, khảo sát lại để xem đâu là mô tả đúng đắn, đáng tin cậy.
c. Quy mô của bộ sách
Nhắc đến quy mô của bộ sách, chúng tôi muốn nói đến số quyển và số bài thơ chép trong MĐTV của Bùi Nhữ Tích.
Mặc dù bài Tự tự không ghi rõ số quyển nhưng nó cho biết, Bùi Nhữ Tích chia sách của mình làm 8 “vựng”; 8 “vựng” có thể là 8 quyển. Con số này phù hợp với cách ghi “quyển 7, quyển 8” rồi đến bài Bạt MĐTV (của Bùi Ngạn Cơ) trong bản VHv.2392. Điều đó một lần nữa khẳng định tính chất gần nguyên bản nhất của VHv.2392. Đồng thời, điều này phủ chính thông tin về số quyển mà Việt thi tục biên Tiểu dẫn (Nguyễn Thu) cung cấp: 3 (quyển). Rất có thể, văn bản Việt thi tục biên có sự sai sót trong quá trình sao chép; cũng có thể, Nguyễn Thu không được tiếp xúc với một bản MĐTV đầy đủ.
Số bài mà Bùi Nhữ Tích thu thập được là: “hơn một nghìn bốn trăm bài”. Trong bài Bạt của Bùi Ngạn Cơ (bản VHv.2392) cũng có nói đến số lượng tác phẩm là “hơn một nghìn năm trăm bài”, chênh lệch với con số trong bài Tự tự khoảng trên dưới 100 bài. Sự chênh lệch đó phải chăng là do sự xuất nhập, sai sót của các văn bản? Cũng có thể Bùi Ngạn Cơ tính cả số bài thơ do cha sáng tác (hiện nay chỉ còn 6 bài chép cuối bản VHv.2392) chăng? Hoặc khi biên tập lại sách của cha, Bùi Ngạn Cơ đã thu thập thêm chăng? Vấn đề này cần phải tiếp tục được nghiên cứu. Dẫu sao, điều đó cũng cho thấy sự biến đổi văn bản từ tay Bùi Nhữ Tích đến tay Bùi Ngạn Cơ. Tuy nhiên, việc cả hai văn bản đều nói đến con số hơn nghìn bài đó cho thấy quy mô của MĐTV là tương đối lớn (chỉ sau Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn).
Ngoài ra, bài Tự tự còn thể hiện một vài quan niệm, nhận thức về thơ ca của Bùi Nhữ Tích. Tuy nhiên, điều đó nằm ngoài nội dung của bài viết này.
Tóm lại, bài Tự tự MĐTV của Bùi Nhữ Tích là một tư liệu quý. Nói về các tư liệu có liên quan đến MĐTV và soạn giả của nó - Bùi Nhữ Tích - chúng ta hầu như chỉ có những tác phẩm của người đời sau viết về nó (bài Bạt MĐTV của Bùi Ngạn Cơ, Việt thi tục biên Tiểu dẫn của Nguyễn Thu,v.v…). Vì vậy, bài Tự tự MĐTV có ý nghĩa đặc biệt, có độ tin cậy cao, nhiều thông tin quan trọng. Bài Tự tự chỉ dẫn cho chúng ta nhiều thông tin quan trọng, gợi mở khả năng truy hồi lai lịch và phục nguyên lại văn bản một công trình thi tuyển quan trọng của dân tộc./.
Hà Nội, tháng 12 năm 2007.
N.T.T
Chú thích
(1) Việt âm thi tập (Phan Phu Tiên, Chu Xa): Mục lục có ghi 612 bài của 113 đơn vị tác giả. Theo bài Tựa của Lý Tử Tấn, văn bản có hơn 700 bài. Tinh tuyển chư gia luật thi (Dương Đức Nhan): Theo Phan Huy Chú, sách gồm 5 quyển tập hợp thơ của 13 tác giả Trần, Hồ, Lê sơ gồm 472 bài (Lịch triều hiến chương loại chí, Văn tịch chí). Theo Lê Quý Đôn, sách gồm 15 quyển (Đại Việt thông sử, Nghệ văn chí). Nếu quả đúng vậy thì ước lượng tác phẩm cũng chỉ khoảng hơn một nghìn bài. Trích diễm thi tập (Hoàng Đức Lương): Theo Lê Quý Đôn sách có 15 quyển, nhưng đến thời ông chỉ còn không quá 1 nửa (Đại Việt thông sử, Nghệ văn chí. Theo bài Tựa của Hoàng Đức Lương thì sách gồm 6 quyển và phụ chép thơ của tác giả Hoàng Đức Lương (25 bài). Theo Mục lục bản hiện còn sách chép 259 bài thơ của tất cả 41 tác giả. Nếu quả còn đầy đủ 15 quyển, sách này cũng chỉ khoảng chưa đến nghìn bài. Toàn Việt thi lục (Lê Quý Đôn): Theo thống kê của Hà Văn Minh trong Nghiên cứu văn bản Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn (Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, ĐHSP Hà Nội, 2006) (các bộ 15 quyển) chép thơ của 176 tác giả với 2337 bài thơ. Nếu tính cả các văn bản Toàn Việt thi lục (trên 15 quyển) thì bộ sách chép khoảng trên 4 nghìn bài thơ của khoảng hơn 3 trăm tác giả. Hoàng Việt thi tuyển (Bùi Huy Bích): 6 quyển, chép 562 bài thơ của 167 tác giả. Việt thi tục biên (Nguyễn Thu): chép được 584 bài thơ của 59 tác giả từ thời Mạc đến cuối đời Lê.
(2) Về tình hình cụ thể, xin xem Trần Văn Giáp: Lược truyện các tác gia Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, H, 1971; Tìm hiểu kho sách Hán Nôm - nguồn tư liệu văn học, sử học, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, H, 1972.
(3) Hà Văn Minh, Nguyễn Thanh Tùng: Giới thiệu tình hình văn bản và giá trị một số bộ thi tuyển chữ Hán tiêu biểu của Việt Nam thời Trung đại, Tạp chí Khoa học, Trường ĐHSP Hà Nội, số 5 năm 2005, trang 17 – 22.
(4) Cụ thể xin xem Trần Nghĩa, Francoise Gros (cb): Di sản Hán Nôm Việt Nam – Thư mục đề yếu, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, H, 1994, trang 95.
(5) Trần Văn Giáp: Tìm hiểu kho sách Hán Nôm - nguồn tư liệu văn học, sử học, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, H, 1972, trang 117.
[Bài này cần được bổ sung, chỉnh sửa thêm khi có thời gian]

Giới thiệu một dị bản Minh đô thi vựng mới

Minh đô thi vựng (明 都 詩 彙) là bộ thi tuyển quan trọng của Việt Nam thời Trung đại. Tuy nhiên, dường như sách chưa được in ra mà vẫn tồn tại dưới dạng chép tay. Vì vậy, công trình này chưa được định bản và trong quá trình truyền bản không tránh khỏi hiện tượng tam sao thất bản. Hiện nay, giới nghiên cứu chỉ mới biết tới 3 dị bản của công trình này hiện tàng trữ tại Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm, mà cả ba bản đều không đầy đủ, tình hình văn bản khá phức tạp, đó là các bản: A.2424; A.2171; VHv.2392. Gần đây, thật tình cờ và may mắn, chúng tôi đã tìm thấy thêm một dị bản MĐTV ngoài 3 bản trên. Sau đây, chúng tôi xin được giới thiệu khái quát về văn bản này.
Dị bản này từ lâu đã nằm trên giá sách tại tư gia ông Nguyễn Xuân Diện, Phó giám đốc Thư viện Viện Nghiên cứu Hán Nôm(3). Được biết chúng tôi quan tâm đến sách này, ông đã vui lòng cho mượn và cho phép được khai thác. Nhân đây chúng tôi xin chân thành cảm ơn thiện ý của ông! Cũng vì thế chúng tôi tạm gọi dị bản này là bản Nguyễn Xuân Diện (NXD) để phân biệt với ba dị bản nêu trên.
Sách rách đầu rách cuối, một số tờ đã mủn nát. Sách chép tay trên giấy dó cũ khổ 21x13 cm, khâu gáy, bìa đóng bằng giấy bản cứng, màu hồng. Bìa sách đề “Minh đô thi tập” 明 都 詩 集, nhưng trong ruột sách lại chép “Minh đô thi vựng” (明 都 詩 彙) (tờ 50a), dưới còn có cước chú bằng chữ nhỏ: “Hà Thanh Bùi gia (Liên Khê cư sĩ Cơ Phủ) biên tập” (河 清 裴 家 蓮 溪 居 士 幾 甫 编 輯). Theo chúng tôi, bìa sách chắc do người sau viết vào, nên chúng tôi dựa vào tên được viết ở trong ruột sách. Hơn nữa, theo kết quả chúng tôi đã công bố trong bài Giới thiệu bài Tự tự Minh đô thi vựng của Bùi Nhữ Tích mới phát hiện (Thông báo Hán Nôm học năm 2007), cái tên Minh đô thi vựng mới là tên đúng của sách này. Sách gồm 78 tờ (156 trang), mỗi trang 8 dòng, mỗi dòng khoảng 20 chữ, viết chân phương dễ đọc, có phê điểm bằng mực son, thỉnh thoảng có chú thích (cước chú, hoặc chú trên trán sách) về tiểu sử tác giả hoặc lai lịch các tác phẩm. Sách không có dấu hiệu kiêng húy, không ghi niên đại, tên người sao chép, địa điểm sao chép, xuất xứ văn bản,v.v…Trong văn bản thấy xuất hiện một số địa danh như: tỉnh Sơn Tây, v.v...Theo suy đoán của chúng tôi, sách này sớm nhất cũng chỉ xuất hiện từ cuối thế kỉ XIX trở về sau.
So sánh với 3 bản Minh đô thi vựng hiện có ở Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, chúng tôi thấy bản NXD khá giống với bản A.2424, từ cước chú: “Hà Thanh, Bùi gia Liên Khê cư sĩ Cơ Phủ biên tập” (tờ 50a) đến trật tự ghi chép các tác giả, số bài thơ của từng tác giả (tuy có đôi chỗ xuất nhập, lẫn lộn) [xem Phụ lục 1]. Tất nhiên, so với bản A.2424, ta cũng thấy hiện tượng bản này rách một số tờ ở giữa sách, khiến cho trình tự chép bị đứt quãng, thiếu hụt (chẳng hạn như trường hợp chép thơ Đặng Minh Khiêm - Đàm Thận Huy) [xem Phụ lục 2]. Số tác giả và số bài thơ của bản NXD cũng không đầy đủ, phong phú bằng bản A.2424. Từ đây, có thể suy đoán hai khả năng: bản NXD chép lại bản A2424 hoặc 2 bản này có cùng một nguồn gốc (tức là cùng chép từ một nguồn khác). Như vậy, riêng với bản A.2424, chúng ta có thêm một dị bản để nghiên cứu so sánh.
Đặc biệt, giữa văn bản Minh đô thi vựng (NXD) (tờ 50a) có ghi: “Minh đô thi vựng quyển chi tứ” (Minh đô thi vựng quyển IV). Sau đó là dòng ghi tổng số bài chép: “chấn vựng nhất bách bát thập thủ” (tập hợp 180 bài). Đây là một thông tin cực kì quan trọng. Bởi vì nó cung cấp cho ta cơ cấu và lai lịch của sách. Từ thông tin trên có thể suy ra, phía trước chính là quyển III. Như vậy, bản NXD bao gồm 2 quyển III và IV (dĩ nhiên là không trọn vẹn do bị rách đầu rách cuối). Vậy đây không phải là một công trình trọn vẹn mà chỉ là một phần (quyển III, IV) trong một bộ sách gồm nhiều quyển.
Từ đây, chúng ta có thể quay trở lại xem xét vị trí của bản Minh đô thi vựng A.2424. Bản này, theo như ghi chép bên trong, gồm 2 quyển Thượng và Hạ. Theo Trần Văn Giáp, bản A.2424 có thể là bản của Bùi Ngạn Cơ “nhân sách của cha mà làm gọn lại, thành 2 quyển thượng và hạ”(). Theo chúng tôi, với những tư liệu mới tìm thấy, điều này ít có khả năng xảy ra. Bản A.2424 rất giống với bản NXD, mà bản NXD được chép là quyển III, IV, vậy A.2424 cũng chính là dị bản của 2 quyển III, IV (chỉ có điều bị đổi thành quyển “Thượng” và quyển “Hạ”) chứ không phải sách toát yếu bộ Minh đô thi vựng. Vậy A.2424 cũng không phải công trình trọn vẹn mà chỉ là một phần của công trình đó.
Cũng theo bài viết chúng tôi đã công bố, số quyển của Minh đô thi vựng nhiều khả năng là 8 quyển, trong đó bản VHv.2392 đóng góp cho chúng ta quyển VII, VIII (đúng như ghi chép bên trong bản này).
Vậy, dị bản mới phát hiện cho thấy bản NXD và bản A.2424 đóng góp cho chúng ta quyển III, IV của bộ Minh đô thi vựng. Đây là kết luận quan trọng để có thể hình dung quá trình truyền bản của công trình và góp phần tiến tới phục nguyên văn bản Minh đô thi vựng trong khả năng có thể.
Như vậy, việc phát hiện 1 dị bản Minh đô thi vựng mới (bản NXD) và bài Tự tự Minh đô thi vựng (trước đây) đã góp phần làm sáng rõ nhiều vấn đề văn bản học của công trình này. Nhưng đây không phải là trọng tâm của bài thông báo. Chúng tôi sẽ còn trở lại các vấn đề văn bản học của Minh đô thi vựng một cách chi tiết, đầy đủ hơn trong thời gian sắp tới./.
Hà Nội, tháng 12 năm 2008.
N.T.T
Chú thích
(2) Xin xem Trần Văn Giáp: Lược truyện các tác gia Việt Nam, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, H, 1971; Tìm hiểu kho sách Hán Nôm - nguồn tư liệu văn học, sử học, tập 1, Nxb Khoa học xã hội, H, 1972.
(3) Chúng tôi xin bày tỏ lòng cảm ơn ông Nguyễn Xuân Diện (Phó Giám đốc Trung tâm thư viện, Viện Nghiên cứu Hán Nôm) đã cung cấp và cho phép chúng tôi sử dụng văn bản này trong bài viết của mình.
(4) Trần Văn Giáp: Lược truyện các tác gia Việt Nam, tài liệu đã dẫn, trang 117.