Trong số những tác giả thế kỉ XVIII có ý kiến bàn về thơ, chúng ta thấy nổi lên ba gương mặt phát biểu nhiều nhất là Lê Quý Đôn (1726 - 1784), Phạm Nguyễn Du (1739 - 1786?) và Ngô Thì Nhậm (1746 - 1803). Trong đó, những ý kiến của Lê Quý Đôn, Ngô Thì Nhậm đã được quan tâm giới thiệu và thẩm định. Đương nhiên, điều đó hẳn là vì giá trị của những ý kiến của hai gương mặt trên, nhưng theo thiển nghĩ, một phần cũng bởi vị trí của họ trong lịch sử văn hóa, văn học dân tộc. Phạm Nguyễn Du chưa được may mắn như vậy. Đứng trên góc độ lịch sử, văn hóa, văn học, ông không có nhiều tiếng vang như hai tác giả nọ. Hệ quả là, sự nghiệp văn học của ông chưa được quan tâm nghiên cứu một cách toàn diện. Tên tuổi của ông được nhắc đến có chăng vì một tập Đoạn trường lục khóc vợ độc đáo, một tập Nam hành kí đắc giàu sắc thái tả thực, một Luận Ngữ ngu án uyên bác kinh học, trong khi ông còn hàng trăm bài thơ, hàng trăm bài văn chờ được khám phá. Thực trạng đó cũng che lấp một sự thực mà chúng tôi đã nói ngay từ đầu, Phạm Nguyễn Du bàn nhiều về thơ. Chưa cần nói đến chất lượng của những ý kiến đó, chỉ cần điều đó cũng đã đủ khiến ông là một “tiếng nói” của tư tưởng thi học Việt Nam thế kỉ XVIII. Từ sự xác định tư cách một thi học gia Việt Nam thế kỉ XVIII, chúng tôi bước đầu đi vào tìm hiểu nội dung và giá trị tư tưởng thi học của ông.
Tư tưởng thi học của Phạm Nguyễn Du không được phát biểu tập trung trong một công trình chuyên biệt nào mà được phát biểu rải rác qua các bài Tựa, bài Bạt, Đề từ,… ông viết cho các cuốn sách khác nhau cũng như qua các sáng tác của ông. Ông phát biểu khá nhiều vấn đề, nhưng tựu trung, có hai vấn đề lớn là: quan niệm về nguồn gốc của thơ và quan niệm về người làm thơ. Sau đây chúng ta sẽ lần lượt tìm hiểu từng vấn đề.
1. Quan niệm về nguồn gốc của thơ
Quan niệm về nguồn gốc thơ của Phạm Nguyễn Du tiêu biểu cho quan niệm thơ chính thống ở thế kỉ XVIII với các đại biểu như Trịnh Sâm, Phan Lê Phiên, Ngô Thì Nhậm, v.v... Đó là quan niệm của các nhà Nho có thiên hướng “lí học” (Tống Nho). Bài dẫn đầu sách Thạch Động tiên sinh thi tập cho biết Phạm Nguyễn Du là một tác giả “nghiên cứu sâu về lí học”[2]. Tư tưởng thi học của ông cũng thấm đẫm chất “lí học” đó.
Nói đến nguồn gốc của thơ, theo La Căn Trạch là nói đến hai nội dung: nguồn gốc lịch sử và nguồn gốc lí luận [9; 5]. Nguồn gốc lịch sử là đáp án của câu hỏi: thơ có từ đời nào, ở đâu? Nguồn gốc lí luận là đáp án của câu hỏi: vì sao có thơ? Vì thơ bắt nguồn từ thế giới tinh thần của con người nên có khi người ta còn gọi “nguồn gốc lí luận” là “nguồn gốc tâm lí”. Nguồn gốc lịch sử thuộc về tri thức văn học sử, nguồn gốc lí luận, đúng như tên gọi của nó, thuộc về tri thức lí luận văn học. Nói chung, quan niệm về nguồn gốc lịch sử của thơ ở các tác giả Việt Nam trung đại là sự nhắc lại quan niệm cổ xưa của các học giả Trung Hoa. Theo đó, nguồn gốc của thơ bắt nguồn từ sáng tác cổ đại Trung Hoa: gần và có chứng cớ rõ ràng thì bắt nguồn từ Kinh Thi (thời Chu), xa và theo truyền thuyết thì bắt nguồn từ những sáng tác dân gian thời Nghiêu, Thuấn. Vì thế ở đây, chúng ta chỉ quan tâm đến quan niệm về nguồn gốc lí luận của thơ. Vậy, Phạm Nguyễn Du quan niệm về nguồn gốc lí luận của thơ như thế nào?
Trong quan niệm thơ cổ Phương Đông (Trung Hoa và các nước “đồng văn”) nói về nguồn gốc lí luận của thơ, có hai mệnh đề quan trọng xuyên suốt là “Thi dĩ ngôn chí” (Thơ để nói chí) hoặc “thi ngôn chí” (thơ nói chí) và “Thi phát hồ tình” hoặc “thi duyên tình” (Thơ khởi phát từ tình cảm) thì cả hai đều được Phạm Nguyễn Du đề cập đến. Tuy nhiên, dù đề cập đến mệnh đề nào Phạm Nguyễn Du cũng lí giải chúng theo khuynh hướng “lí học”. Về mệnh đề “thi dĩ ngôn chí”, ông viết: “Thơ là để nói chí, chí là chỗ đến của tâm. Tâm kính cẩn ắt chỗ đến của nó cũng kính cẩn” [Đề An Toàn Bùi Bật Trực thi tập]. Về mệnh đề “Thi phát hồ tình”, ông viết: “Thơ khởi phát từ tình. Tình là cái thị dục của tính vậy. Cái dục của tính không thể không có hai dạng tà, chính. Duy có cái tình cảm này mà chính thì cái khởi phát nên (thơ) cũng chính” [Tựa Tây hỗ mạn hứng]. Nhìn nhận lịch sử phát triển thơ ca (Trung Quốc), Phạm Nguyễn Du cũng dựa trên triết học “lí khí” của Tống Nho: “Tiên nho luận về thơ cũng xem thơ Kì Áo(() Kì Áo: bài thơ trong Kinh Thi (Vệ Phong), ca tụng công đức của Vệ Vũ Công. ) là học trò của thánh hiền. Phép lớn, ý chỉ bao trùm của thơ đều ở hết chỗ ấy vậy. Sau đó thơ biến lần thứ nhất thì thành thơ đời Chiến Quốc; đến đời Nguỵ Tấn lại biến đổi lần thứ hai thành thơ đời Tấn, Chu; đến đời Sơ Đường lại biến đổi lần thứ ba thành thơ luật của Lí, Đỗ; cho đến đời Tống, Minh, biến đổi càng nhiều thì càng khéo léo, chặt chẽ, nhưng khí càng kém cỏi, lí càng mờ tối” [Tựa Tây Hưng đạo sử]. Bình luận các nhà thơ nổi tiếng Trung Quốc ông một mực đề cao các nhà thơ Tống là Trình Hiệu, Chu Hi: “Đào [Tiềm] thì gần với cái chính, Khuất [Nguyên] thì phẫn uất thái quá, Đỗ [Phủ] thì cùng uất có thừa, Lí [Bạch] thì phóng đãng mà buông thả, Bạch [Cư Dị] thì thất ý mà ẩn ngạo, Nguyên [Chẩn] lại là kẻ dưới một bậc. Cái liêm sỉ của sĩ đại phu còn được dẫn dắt bởi hai vị Trình [Hiệu], Chu [Hy]” [Tựa Tây hỗ mạn hứng],v.v…
Để hiểu Phạm Nguyễn Du ta cần hiểu qua về tư tưởng thi học của Tống Nho. Như ta biết, Nho giáo nguyên thuỷ chỉ là một học thuyết chính trị xã hội, gần như thiếu hẳn phần triết học bản thể. Từ đời Hán đến đời Đường, Nho giáo tuy được tôn làm quốc giáo nhưng nó vẫn không khắc phục được “lỗ hổng” vũ trụ luận hay bản thể luận đó. Đến đời Tống, các nhà Nho uyên thâm như Trương Tải, Trình Di, Trình Hiệu, Chu Hy… nỗ lực lấp đầy “lỗ hổng” đó bằng cách mượn và cải hoá nhiều tư tưởng, khái niệm của Phật giáo và Đạo gia vào trong Nho giáo. Bởi vậy, người ta gọi Tống Nho là Tân Nho giáo (Néo - Confucianisme) hay Đạo học. Triết học Tống Nho (lý học) “thật ra chỉ là một hỗn hợp phẩm giữa Lão, Phật và Khổng” [4; 177 - 194]. Cốt lõi của Tống Nho là học thuyết lý - khí, trong đó “lý” là phạm trù trung tâm, quan trọng nhất. Phạm trù “lý” của Tống Nho bao hàm hai mặt: “thiên lý” và “tính lý”. “Thiên lý” là cái lý ở trong sự vật, chỉ quy luật và phép tắc vận hành, hoạt động của sự vật. Nó là cái “nhất thể” nhưng có muôn hình vạn trạng, biểu hiện trong mọi sự vật hiện tượng. “Thiên lý” của Tống Nho cũng tương tự như phạm trù “Phật tính” hay “chân như” của Phật giáo và phạm trù “đạo” của Đạo gia, Đạo giáo. Còn “tính lý”(() Tính lí: là chữ ghép của hai từ “nhân tính” và “thiên lí” theo quan niệm của Tống Nho [10, 479], như vậy trong từ “tính lí” đã bao hàm quan niệm về sự tương thông giữa nhân tính và thiên lí.) là cái “thiên lý” trong con người, chỉ đạo đức, luân lý, lý tính. Tống Nho cho rằng, người ta nếu đạt đến sự “minh tâm, kiến tính” (chữ của Phật giáo), “chính tâm, thành ý” (chữ của Khổng Tử) thì sẽ nắm và khế hội được với “thiên lý”. Lúc đó, “tính lí” sẽ sáng rõ, sẽ hợp với đạo. Xuất phát từ tư tưởng triết học đó, Tống Nho vừa kế thừa quan niệm thi học cố hữu của Nho gia, vừa bổ sung vào đó quan niệm chú trọng yếu tố tâm lý con người (chủ yếu là nhân tố lý tính). Nói khác đi, Tống Nho đã chú trọng hơn đến tính chủ quan của thơ, coi thơ là một thứ “tâm học”(() Chính phái “tâm học” (do Vương Thủ Nhân đứng đầu) đời Minh là hậu duệ của lí học đời Tống.) để tu dưỡng đạo đức, tính tình. Nếu như Nho giáo “tiền Tống Nho” chú trọng phô bày và phúng thích thì Tống Nho chú trọng sự “di dưỡng tính tình”, khả năng tác động vào “tâm”, “tính” của thơ. Tống Nho chủ trương bảo tồn tính lý mà trừ bỏ dục vọng, làm cho tâm được đúng đắn, hợp đạo. Quan niệm này được Chu Hy phát biểu như sau: “Hoặc giả có người hỏi ta rằng: Vì sao mà phát sinh ra thơ? Ta đáp: “Đời sống con người, lúc tĩnh là do tính thiên nhiên, khi có cảm xúc với sự vật mà động là do cái thị dục của tính vậy. Ôi! Đã có thị dục thì sao khỏi có tư lự, đã có tư lự thì lúc nói không tỏ hết những điều muốn nói; cái còn dư ấy sẽ phát ra những giọng than thở ngâm nga, tự nhiên hợp với tiết tấu mà không thể nào ngừng được. Đó là vì đâu mà xuất hiện ra thơ vậy” [Tựa Kinh Thi tập truyện]. “Thị dục của tính” (tính chi sở dục) theo định nghĩa của các nhà Nho xưa chính là “tình”. Ở đây, Tống Nho không ngần ngại nói đến nguồn gốc tình cảm của thơ (tình hay “thị dục của tính). Nhưng Tống Nho lại yêu cầu thơ phải “ngâm vịnh cái chính đáng của tình tính” (ngâm vịnh tính tình chi chính), phải đề cao “tính lý”. Điều này có liên quan đến quan niệm về chức năng “tải đạo” của văn chương nói chung ở Tống Nho. Chu Hy lý giải rất rõ rằng: “Thơ là cái dư âm của lời nói khi lòng người cảm xúc với sự vật mà nó thể hiện ra ngoài. Nhưng sự cảm xúc ấy có tà có chính, cho nên lúc được thể hiện ra lời nói cũng phải có thị có phi” [Tựa Kinh Thi tập truyện]. Yêu cầu của Tống Nho là “lấy tình hợp với tính, lấy tính hợp với đạo” [Đài tống Tiểu Trứ thư - Vương Bật]. Các nhà thi học Tống Nho đều đề cao câu nói của Bạch Cư Dị (đời Trung Đường): “vịnh tính chứ không vịnh tình” [10; 157 – 165] Vì thế, thơ của họ thường được mệnh danh là “thơ tính lí”. Nói tóm lại, tư tưởng thi học của Tống Nho giàu màu sắc lý tính và khá duy ý chí. Song không thể phủ nhận được đóng góp của Tống Nho trong hệ thống tư tưởng thi học của Nho gia nói chung. Trước đó, Nho gia chưa mấy quan tâm đến việc lí giải nguồn gốc tâm lí của thơ mà chỉ quan tâm đến chức năng của thơ (quan phong, phúng thích). Nói khác đi, quan niệm thơ của nó mang tính “hướng ngoại”. Quan niệm của Tống Nho chú trọng “hướng nội”, tập trung lí giải nguồn gốc lí luận của thơ theo hướng duy tâm như trên. Quan niệm của Phạm Nguyễn Du, về cơ bản, là vậy.
Tuy nhiên, không phải bao giờ Phạm Nguyễn Du cũng chỉ gò mình trong những “khuôn khổ” ấy. Với tư cách một nghệ sĩ, Phạm Nguyễn Du nhận thấy thơ không chỉ là chuyện “tính lí”, “đạo lí” mà còn là tình cảm nảy ra trong những hoàn cảnh cụ thể, riêng biệt. Ông hình dung: “Mỗi thời mỗi sự, mỗi sự mỗi cảnh, tức sự mà có thể ngụ hết hứng vào đó, gặp cảnh thì không gì là không nảy ra ý. Lúc bấy giờ, câu thơ theo hứng mà nảy sinh, bút đuổi theo ý mà thành thơ, phát ra cái tình nhàn nhã lúc rỗi công việc, nêu lên nỗi lòng chân thực mà riêng mình có” [Tựa Phụng thị cung kỉ thi tập]. Quan niệm của Phạm Nguyễn Du rất gần với thuyết “tam yếu” của Lê Quý Đôn mà chúng tôi đã có dịp giới thiệu trong bài Nhìn lại quan niệm về thơ của học giả Lê Quý Đôn trong Vân Đài loại ngữ [7]. Điều này cho phép chúng ta nghĩ đến một sự trưởng thành trong tư duy thơ Việt Nam thế kỉ XVIII. Đó không chỉ là nhận thức đúng đắn về nguồn gốc tình cảm đích thực của thơ mà còn là sự tự ý thức về quá trình sáng tạo hay “tâm lí sáng tạo” thơ. Chính vì vậy, đề tựa tập Trường bi tư thiên (Nỗi nhớ thương đằng đẵng) của Nguyễn Kì Trai, Phạm Nguyễn Du đã cảm nhận được cái chân tình của tập thơ một cách khá cảm động và sâu sắc: “Đọc thơ như thấy ông đang khóc gào nức nở, vỗ ngực dậm chân; như thấy ông đang cười nói miên man, ôn tồn âu yếm; như thấy ông đang nghẹn ngào rên rỉ, cảm thán bồi hồi; như thấy ông đang trải qua cái ngày gương vỡ phấn thừa mà lệ rơi, đang đứng trước cái lúc con côi vợ góa mà đau lòng. Mặt giấy lâm li, chốn tinh thần thôi thúc, bút lông phảng phất, nơi mộng mị tiếp giao. Đó là đã biết cái gì nó xui khiến nên như thế mà như thế chăng? Hay chẳng biết cái gì nó xui khiến nên như thế mà lại như thế chăng?” Không chỉ đọc được tấm chân tình trong thơ của người khác, Phạm Nguyễn Du còn hiểu rất rõ động lực sáng tác của bản thân. Trong chuyến đi công cán vào phương Nam năm 1777 - 1778, trước hiện thực tàn khốc của chiến tranh, trước cảnh đói khổ của nhân dân sau nhiều năm loạn lạc, nhiều năm bị bọn thống trị áp bức, quan niệm của Phạm Nguyễn Du đã có những chuyển biến quan trọng. Từ sự xúc động chân thành, ông xác định mục đích cho ngòi bút của mình một cách khá dứt khoát:
Hướng thùy đắc họa Ô Châu địa?
Khước ngoại cơ dân bất họa tha.
(Nếu vẽ cảnh đất Ô Châu(() Ô Châu: tên cũ của đất Thừa Thiên, Quảng Nam ngày nay. ), nên vẽ ai?
Ngoài người dân đói ra, chớ nên vẽ ai khác)
[Đồ gian ngẫu ký]
Dục đắc vân thê triều đế sở,
Hội thành hộc diện dự thương thương.
Những mong có thang mây lên chầu Ngọc Hoàng thượng đế,
Vẽ nên bộ mặt chim hộc(() Chỉ tình cảnh đau khổ của người dân. ) để kêu với trời xanh)
[Mẫn cùng dân ngẫu tác]
Đó là quan điểm tiến bộ xuất phát từ tình cảm chân thực, từ nỗi “đau đớn lòng” trước “những điều trông thấy” (chữ Nguyễn Du) lúc bấy giờ. Quan niệm này còn được thể hiện qua cách đặt tiêu đề nhiều bài thơ của Phạm Nguyễn Du như: Đồ gian ngẫu kí, Đa vũ cảm tác, Sinh nhật cảm đề, Mẫn cùng dân ngẫu tác, Hành đồ ngẫu hứng, Cảm dân cư tán lạc, Vãn cùng dân mẫu tử tương thực hữu cảm, v.v… Sáng tác của Phạm Nguyễn Du (ngoài mảng thơ thể hiện đạo lí quen thuộc còn có những bài phản ánh tình cảm chân thực, xúc động của ông, nhiều bài mang tinh thần hiện thực sâu sắc) phản ánh quan niệm tích cực đó.
2. Quan niệm về người làm thơ
a. Sự tu dưỡng tâm hồn
Do quan niệm về nguồn gốc của thơ như trên mà về người làm thơ, Phạm Nguyễn Du cũng yêu cầu trước hết là sự tu dưỡng tâm hồn mà cụ thể là sự tu dưỡng về đạo đức, tính lí theo quan điểm Tống Nho. Đối với Phạm Nguyễn Du, thơ là phương tiện để “chở đạo”, để khuyến thiện trừng ác, phúng gián chính sự, tu dưỡng đạo đức (chính tâm), trong đó, nội dung tu dưỡng đạo đức, tính lí được đặt lên hàng đầu. Ông ca ngợi loại thơ: “ngâm nga lên liền hợp với thanh luật mà chỉ thú thì sâu xa, ngắm nó đủ để có thể hưng khởi thiện niệm, điều tiết tà tư, dương cao di ý luận về thơ của thánh nhân ta” [Tựa Tây hỗ mạn hứng]. Ông phê phán lối thơ cử tử ở chỗ: “các sĩ tử đi thi đều quen với lối học hành cử tử, kẻ tự biết thưởng thức thơ thì ít, kẻ hủy báng thơ thì nhiều, có thể nói là do (thơ đó) không liên quan gì đến thân tâm, chính sự cả” [Đề Thần du thi tập]. Đây cũng là quan niệm chung về văn chương của Phạm Nguyễn Du. Ông yêu cầu: “Văn chương phải có trách nhiệm trước núi sông” (Văn chương hữu trách tại giang sơn) [Hành đồ ngẫu hứng] cho nên người làm thơ trước hết phải tự sửa mình, để từ đó mới có văn chương, mới có thơ ca. Ông khẳng định: “cái học của sĩ quân tử là để nuôi dưỡng cái tâm” [Đề An Toàn Bùi Bật Trực thi tập] bởi vì “cái học của sĩ quân tử ắt lấy cùng lí, tận tính làm gốc, đạo đức chứa ở trong mà tràn ra bên ngoài, hiện hình ở lời nói, lời văn… “[Tựa Tây hỗ mạn hứng]. Phẩm chất trước hết của người làm thơ là đôn hậu, trung chính, ôn hòa theo “thi giáo” (ôn, nhu, đôn, hậu) của thánh nhân. Vì vậy, ông cho rằng: “người làm thơ há lại dùng sự ngâm vịnh mà hòng lấy sự giả dối của khéo léo để nổi danh ở đời hay sao” [Tựa Tây hỗ mạn hứng]. Nói về mình và bạn thơ, Phạm Nguyễn Du cũng tuyên bố: “Nếu nói về sự vụng hay khéo của chúng thì cả tôi và [Ninh] Hi Chí đều chưa thể tự tin, chưa dám đưa trình ở đời. Duy có cái khí vuông, thẳng, to lớn, cứng cỏi, rỗng rang mà ông già ở Trâu Sơn(() Tức Mạnh Tử, vị á thánh của Nho gia, quê ở nước Trâu (thời Xuân Thu - Chiến Quốc).) gọi đó là cái khí hạo nhiên, thì tôi và Hi Chí cũng có khi tự tín, rất muốn gắng gỏi mài rũa, trở thân mình dùng sức để mà cầu, ngõ hầu tới gần được đạo của thánh hiền” [Tựa Tây hỗ mạn hứng]. Chính vì vậy, về việc phúng gián của thơ, ông chủ trương: “phúng gián nhẹ nhàng nhưng không được quá gay gắt dù có sự oán thán, suy tư dày dạn mà không được nông nổi. Đây là di chỉ của thơ canh ca đời Đường Ngu, là chính tông của thơ Đại Nhã trong Kinh thi” [Đề An Toàn Bùi Bật Trực thi tập]. Song, do quá nhiệt tình cổ súy cho “thi giáo” của thánh nhân, Phạm Nguyễn Du có phần cứng nhắc khi nêu tôn chỉ cho người làm thơ là: “đâu dám theo đuổi việc chấm khói, vẽ ra cảnh hoang vu, trăng mờ, gió thảm. Những việc ấy đều có tội với Phong, Nhã” [Tựa Phụng thị cung kỉ thi tập]…
Tuy vậy, Phạm Nguyễn Du cũng yêu cầu người làm thơ phải tu dưỡng tình cảm chân thực, tự nhiên. Theo ông, người làm thơ nên “chuyên chú vào sự thực để có sự toả sáng, tự nhiên mà thành văn vẻ, rất bình đạm mà sinh lí thú, như cái linh thiêng của máy khí, khó thấy sự mệt nhọc trong sự vận động của nó, như cái thần diệu của hoá công, khó thấy dấu vết đẽo gọt của nó” [Tựa Tây Hưng đạo sử]; người làm thơ cần phải lấy “sự đạm bạc bộc lộ làm anh hoa, sự chân thực biểu hiện làm tinh tuý” [Bạt Nghệ An thi tập]. Chính vì vậy, Phạm Nguyễn Du rất coi trọng cái “thần” trong thơ. Ông coi thơ “như cây cỏ gốc rễ vốn cắm sâu dưới lòng đất mà cành lá sum suê, trăm xanh, nghìn hồng, vạn tía, (như vẽ) rồng trời điểm xuyết (con mắt), cái khéo léo của bức họa không thể truyền lại được cái thần của nó” [Tựa Tây hỗ mạn hứng], v.v... Cái “rễ vốn cắm sâu dưới lòng đất” mà ông nói đến chính là tình cảm chân thực bắt nguồn từ sự xúc động chủ quan của người làm thơ. Đúng là “cái thần” không thể dùng sự “khéo léo” của kĩ thuật đơn thuầnmà vẽ lại được! Một số tác phẩm thành công của Phạm Nguyễn Du được sáng tác từ tình cảm tự nhiên, chân thực đó, đặc biệt phải kể đến là tập Đoạn trường lục nổi tiếng.
b. Tài nghệ và học vấn
Nét đặc sắc nhất trong quan niệm về người làm thơ của Phạm Nguyễn Du là quan niệm về tài nghệ và mối quan hệ của nó với học vấn. Trước hết, ông khẳng định: “Thơ là tài nghệ” [Bạt Nghệ An thi tập], không có tài nghệ thì không có thơ hay và người làm thơ giỏi. Vì sao? Ông lập luận: “mà thánh nhân đem tài nghệ xếp vào mục chí đạo, cư đức và hoài nhân, như vậy liệu tài nghệ có thể thiếu được chăng?”. Phạm Nguyễn Du còn dấn thêm một bước khi viết: “Các bậc hiền triết thời xưa đầy đủ đạo đức và nhân nhưng vẫn có người chưa đầy đủ ở tài nghệ. Vì tài nghệ phần nhiều nẩy sinh từ thiên bẩm, chứ không hoàn toàn do học vấn, đó là điều nhân tài xưa nay cùng tán đồng vậy” [Bạt Nghệ An thi tập]. Ở đây, Phạm Nguyễn Du không phủ nhận tầm quan trọng của học vấn. Nhưng chỉ có học vấn không thì không đủ, học vấn phải gắn liền với tài nghệ thì mới có thơ hay, mà tài nghệ lại “phần nhiều nẩy sinh từ thiên bẩm”. Không biết là ngẫu nhiên hay có ý, quan niệm của Phạm Nguyễn Du “tranh luận” lại với các tư tưởng thi học gia đời Tống chủ trương “lấy học vấn làm thơ” mà đại diện tiêu biểu là Hoàng Đình Kiên cũng như các tư tưởng thi học gia đời Thanh theo thuyết “cơ lí” đề cao loại “thơ học vấn”, “thơ khảo cứu” với đại biểu là Ông Phương Cương,v.v…[5],[10]
Với quan niệm trên, Phạm Nguyễn Du cũng đã có ý thức phản bác lại quan niệm “kẻ có đức ắt có lời” (hữu đức giả tất hữu ngôn) mà nhiều khi chính bản thân ông vẫn chịu ảnh hưởng (xem Tựa Tây hỗ mạn hứng), vì có đức chưa hẳn có tài nghệ mà tài nghệ “phần nhiều nảy sinh từ thiêm bẩm”, “không hoàn toàn do học vấn”. Bình thơ Bùi Huy Bích, Phạm Nguyễn Du viết rõ thêm: “Còn như sự đạm bạc bộc lộ làm anh hoa, sự chân thực biểu hiện làm tinh tuý, sắc vẻ như chim phượng, ngát thoảng như hoa lan, cái tài của sai sử chuyển ý, áp vần, cái khéo của xếp đặt khởi kết, toàn bộ ngân vang, khiến người đánh nhịp, tài nghệ đến như thế là tinh vi rồi, đâu riêng sự đi tới của học vấn mà còn là sáng tạo của thiên tư. Phải chăng là kết hợp đạo, đức, nhân và tài nghệ mà đi tới sự trọn vẹn này?” [Bạt Nghệ An thi tập]. Đây quả là ý kiến xác đáng và có ý nghĩa đột phá về người làm thơ, một lần nữa cho thấy trong quan niệm thơ của Phạm Nguyễn Du hoàn toàn không đơn giản, một chiều, không “thuần Tống Nho”. Điều đó cũng phản ánh nhận thức chung về tài nghệ trong tư tưởng thi học Việt Nam thế kỉ XVIII. Trước đó, những ý kiến bàn về tài nghệ có phần ít ỏi, chung chung. Đến thế kỷ XVIII, tài nghệ đã được bàn đến nhiều hơn và sâu sắc hơn nhiều. Lê Hữu Kiều yêu cầu: “Người làm được thơ hay như thế, tất phải là người tài hoa… Nếu không như thế thì quê mùa nông cạn, làm thơ chỉ nói một cách chung chung thì gọi là thơ thế nào?” Tài năng ở đây đã gắn với vấn đề bản sắc (phong cách), cá tính, thiên tư. Đó cũng là quan niệm của Ninh Tốn. Bình luận về Phạm Nguyễn Du, ông viết: “Bạn tôi là Thạch Động Phạm Nguyễn Du thiên tài trái dị” [Tựa Hoa trình học bộ tập]. Ở một chỗ khác ông cũng nhắc lại: “Hữu Pha công thiên tài tuấn dị” [Tựa Nam hành kí đắc]. Ông giải thích “thiên tài trái dị”, “tuấn dị” đó là “thơ văn làm ra có phong cách riêng biệt không nhường ai trong thiên hạ” [Tựa Hoa trình học bộ tập]. Chính cái “thiên tài trái dị” đó khiến một người có tư tưởng “bảo thủ”, “thực tế” như Ngô Thì Nhậm, mặc dù từng là bạn thân của họ Phạm cũng tỏ ra không tán thưởng. Ngô Thì Nhậm viết: “Văn chương của Thạch Động như thuyền không lái, như ngựa bất kham, khí phách sắc sảo, lời lẽ hùng hồn, nhưng không có khí cốt vững chắc. Bản chất và tâm tính của ông cũng thế. Vì vậy gọi là kẻ sĩ giỏi văn thì được, chứ gọi là kẻ bác văn ước lễ (Học rộng, biết nhiều nhưng nên dùng lễ nghĩa mà thâu tóm lại) thì không được” [Thư gửi em bàn về văn chương]. Với Ngô Thì Nhậm, tài năng vẫn phải đứng sau “lễ nghĩa”, phụ cho “lễ nghĩa”. Quan niệm của Ngô Thì Nhậm tiêu biểu cho cách nhìn của một số nhà Nho thủ cựu về tài năng nói chung và tài thơ nói riêng, nhưng không tiêu biểu cho xu thế của thời đại. Xu thế đó là sự ý thức ngày một sâu sắc vai trò của tài năng trong sáng tạo nghệ thuật nói chung và thơ ca nói riêng. Điều này có liên quan mật thiết đến sự trỗi dậy của cái Tôi cá nhân, của ý thức cá tính trong văn học Việt Nam thế kỉ XVIII - XIX mà một trong những biểu hiện của nó là ý thức “thị tài” (cậy tài), coi trọng tài năng thiên bẩm.
Có thể nói, Phạm Nguyễn Du là một trong số ít những gương mặt tiêu biểu của thi học Việt Nam thế kỉ XVIII. Vì vậy, nghiên cứu tư tưởng thi học thế kỉ này không thể không nhắc đến ông. Ở Phạm Nguyễn Du có cả hai mặt của tư tưởng thi học đương thời, đó là mặt bảo thủ, chính thống và mặt tiến bộ, phi chính thống. Mặt bảo thủ, chính thống là đại diện cho tư tưởng thi học của nhà Nho đương thời; mặt tiến bộ, phi chính thống là đại diện cho trào lưu tư tưởng thi học mới nảy sinh từ sự phát triển của tư duy nghệ thuật đích thực. Cố nhiên, hai mặt này không phân biệt với nhau một cách rạch ròi, tuyệt đối mà luôn có sự giao thoa, ảnh hưởng qua lại, trong đó, nói cho thật chính xác thì mặt bảo thủ, chính thống vẫn chiếm ưu thế hơn. Điều này cũng phản ánh tình trạng chung của tư tưởng thi học Việt Nam thế kỉ XVIII trên lịch trình phát triển tư tưởng thi học Việt Nam thời Trung đại.
[Tạp chí khoa học, trường ĐHSP Hà Nội, số 2 năm 2006]
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Phạm Nguyễn Du - Đoạn trường lục (Phan Văn Các dịch và giới thiệu), Nxb Khoa học xã hội, H, 2001.
[2] Phạm Nguyễn Du - Thạch Động tiên sinh thi tập, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu VHv. 1464/1.
[3] Phạm Nguyễn Du - Thạch Động văn sao, Thư viện Viện nghiên cứu Hán Nôm, kí hiệu VHv.84/1-2.
[4] Cao Xuân Huy - Tư tưởng phương Đông gợi những điểm nhìn tham chiếu, Nxb Khoa học xã hội, H, 1995
[5] Phương Lựu - Tinh hoa lí luận văn học cổ điển Trung Hoa, Nxb Giáo dục, H, 1989.
[6] Tổng tập văn học Việt Nam tập 18 (Đặng Đức Siêu chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, H, 1994.
[7] Nguyễn Thanh Tùng - Nhìn lại quan niệm về thơ của học giả Lê Quý Đôn trong Vân Đài loại ngữ, Tạp chí Khoa học, Trường ĐHSP Hà Nội, số 2 năm 2006, trang 13 - 19.
[8] Vương Tiểu Thuẫn, Hà Thiên Niên, Việt Nam cổ đại thi học thuật lược, Tạp chí Văn học bình luận, số 5 năm 2002, trang 20 - 25.
[9] La Căn Trạch - Lịch sử phê bình văn học Trung Hoa (tài liệu dịch), inrônêô, Thư viện viện Văn học, kí hiệu: DL/ 250.
[10] Tiêu Hoa Vinh - Trung Quốc thi học tư tưởng sử (tiếng Trung), Hoa Đông Sư phạm đại học xuất bản xã, Thượng Hải, 1996.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét